21-04-2012, 10:08 AM
Phi tinh theo Niên, Nguyệt, Nhật, Thời
Trên kia chúng ta đã xét cách phi tinh theo Vận, Phần này tiếp tục xem xét cách phi tinh theo năm tháng ngày giờ...
1/ Theo năm :
Khẩu quyết Tử Bạch khởi niên nói: “Thượng nguyên Giáp Tý Nhất Bạch khởi, Trung nguyên Tứ Lục thôi Giáp Tý, Hạ nguyên Thất Xích Đoài vị tầm, trục niên tinh nghịch trung cung thủy”. Thượng nguyên gồm 3 vận 1, 2, 3; Trung nguyên gốm 3 vận 4, 5, 6; Hạ nguyên gồm 3 vận 7, 8, 9.
Lấy ví dụ muốn biết năm 1988 Mậu Thìn thì sao nào trong cửu tinh quản cục và nhập trung cung.
Trước hết ta xem năm 1988 nằm ở nguyên nào. Tra bảng thì thấy năm 1988 nằm ở vận 7 Hạ nguyên (từ 1984 đến 2003)
Sau đó đối chiếu với khẩu quyết, biết “Hạ nguyên Thất Xích Đoài vị tầm”, tức là Hạ nguyên 7 Xích tìm ở cung Đoài, lấy đó làm mốc. Sau đó tính nghịch vì khẩu quyết "trục niên tinh nghịch trung cung thủy".
Bây giờ muốn tính năm Mậu Thìn 1988 thì lấy Giáp tý 1984 an vào cung Thất Xích ở Đoài, rồi tính nghịch, thì Ất Sửu (1985) là Lục Bạch, Bính Dần (1986) là Ngũ Hoàng (Trung), Đinh Mão (1987) là Tứ Lục, Mậu Thìn (1988) là Tam Bích.
Vậy năm Mậu Thìn thì sao Tam Bich quản cục, vậy đem Tam Bích nhập trung làm chuẩn, tiếp đó phi đến 8 cung còn lại theo chiều thuận.
Sau đây là bảng niên tinh cho vân 7 và vận 8
![[Ảnh: attachment.php?attachmentid=140&d=1306159809]](http://hocphongthuy.vn/attachment.php?attachmentid=140&d=1306159809)
Có một kinh nghiệm phi tinh theo năm như sau :
xác định sao nhập Trung cung, tính theo Phi cung của Nam giới là tiện và dễ nhớ nhất. Ví dụ năm 2008 , nam nhân có phi cung là Khảm, điều này Chắc huynh biết tính rồi phải không? Vì thế Nhất bạch sẽ nhập trung cung.
Chỉ có ngoại trừ, trường hợp tổng cộng các số của năm sinh bằng 6 có khác một chút: Sao nhập trung cung không phải là Nhị lắc mà là Sao Ngũ hoàng số 5.
Ví dụ:
- Năm 2008: Tổng các số năm sinh là: 2 = 8 = 10 -9 = 1 > Phi cung khảm, nên Nhất bạch nhập trung cung;
- Năm 2009: Tổng các số năm sinh là: 2+9 = 11 -9 = 2 > Phi cung Ly, nên Cửu tử nhập trung cung;
- Năm 2010: Tổng các số năm sinh là: 2+1 = 3 > Phi cung là Cấn, nên bát bạch 8 nhập trung cung;
- Năm 2011: Tổng các số năm sinh là 2+1+1 = 4 > Phi cung là Đoài, nên thất tinh nhập Trung cung.
- Năm 2012: Tổng các số năm sinh là: 2+1+2 = 5 > Phi cung là Càn, nên lục bạch 6 nhập trung cung.
- Năm 2013, tổng các số của năm sinh là: 2+1+3 = 6 > Tuy phi cung là Khôn, nhưng, đây là trường hợp đặc biệt, lùi về Trung cung, Ngũ hoàng nhập trung cung số 5 (Đây là trường hợp đặc biệt);
2/ Phi tinh theo tháng:
khẩu quyết Tử Bạch Khởi Nguyệt như thế này: [B]"Tý Ngọ Mão Dậu Bát Bạch cung; Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng Trung; Dần Thân Tỵ Hợi cư hà vị, nghịch tầm Nhị Hắc thị kỳ tông”.
Theo khẩu quyết Tử Bạch khởi Nguyệt áp dụng cho tháng âm lịch thì:
- Những năm Tý Ngọ Mão Dậu thì khởi sao Bát Bạch ở tháng Giêng (tháng 1 âm lịch), sau đó phi nghịch cho những tháng kế tiếp
- Những năm Sửu Mùi Thìn Tuất thì khởi sao Ngũ Hoàng ở tháng Giêng
- Những năm Dần Thân Tỵ Hợi thì khởi sao Nhị Hắc ở tháng Giêng
![[Ảnh: attachment.php?attachmentid=141&d=1306160318]](http://hocphongthuy.vn/attachment.php?attachmentid=141&d=1306160318)
![[Ảnh: attachment.php?attachmentid=142&d=1306160386]](http://hocphongthuy.vn/attachment.php?attachmentid=142&d=1306160386)
Ví dụ năm 2011 là năm Tân Mão:
- Tháng Giêng: Bát Bạch (8)
- Tháng hai: Thất Xích (7)
- Tháng ba: Lục Bạch (6)
- Tháng tự: Ngũ Hoàng (5)
- Tháng năm: Tứ Lục (4)
- Tháng sáu: Tam Bích (3)
- Tháng bảy: Nhị Hắc (2)
- Tháng tám: Nhất Bạch (1)
- Tháng chín: Cửu Tía (9)
- Tháng mười: Bát Bạch (8)
- Tháng mười một: Thất Xích (7)
- Tháng chạp: Lục Bạch (6)
Qua năm kế tiếp là năm Thìn, ta cứ việc đếm tiếp:
- Tháng Giêng: Ngũ Hoàng (5)
- Tháng hai: Tứ Lục (4)
- Tháng ba: Tam Bích (3)
......
Nếu coi lại khẩu quyết Tử Bạch Khởi Nguyệt thì thấy trùng hợp với câu quyết "Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng Trung", tháng Giêng của năm Thìn thì sao Ngũ Hoàng nhập trung cung.
[B]3/ Phi tinh theo Ngày :
khẩu quyết tử Bạch khởi nhật, “Bảo Hải Kinh” viết: “Nhật gia Bách pháp bất nan cầu, Nhị thập tứ khí Lục cung chu, Đông Chí Vũ Thủy cập Cốc Vũ, dương thuận Nhất Thất Tứ Trung du, Hạ Chí Xử Thử Sương Giáng hậu. Cửu Tam Lục tinh nghịch hành cầu”.
Lại có khẩu quyết: “Đông Chí Nhất Thất Tứ, Hạ Chí Cửu Tam Lục. Dương thuận Đông Chí hậu, âm nghịch thôi Hạ Chí”.
[I]Ghi chú:
[I]Đông Chí Vũ Thủy cập Cốc Vũ dương thuận Nhất Thất Tứ Trung du, nghĩa là từ Đông Chí đến cuối Lập Xuân thì an Nhất (1) tại trung cung phi thuận; từ Vũ Thủy đến cuối Thanh Minh thì an Thất (7) tại trung cung phi thuận; từ Cốc Vũ đến cuối Mang Chủng thì đưa Tứ (4) vào trung cung phi thuận.
[I]Hạ Chí Xử Thử Sương Giáng hậu. Cửu Tam Lục tinh nghịch hành cầu, nghĩa là từ Hạ Chí đến cuối Lập Thu thì an Cửu (9) tại trung cung sau đó phi nghịch; từ Xử Thử đến cuối Hàn Lộ thì an Tam (3) tại trung cung sau đó phi nghịch; từ Sương Giáng đến cuối Đại Tuyết thì an Lục (6) tại trung cung sau đó chuyển nghịch.
Cách này trước hết tra ngày theo Lục thập hoa giáp, xem ngày ấy thuộc khí nào trong Tam nguyên Cửu vận, ngày theo Lục thập hoa giáp không luận tiết mà luận khí. Ví dụ ngày Giáp Tuất sau Vũ Thủy, ắn an Vũ Thủy từ 7, khởi Giáp Tý từ 7, theo chiều thuận trên bàn tay: Ất Sửu tại 8, Bính Dần 9, Đinh Mão 1, Mậu Thìn 2, Kỷ Tỵ 3, Canh Ngọ 4, Tân Mùi 5, Nhâm Thân 6, Quý Dậu 7, Giáp Tuất 8. Biết Vũ Thủy là tính thuận, ngày Giáp Tuất là ngày 8 nhập Trung cung.
Hoặc muốn tính ngày Nhâm Thân sau Xử Thử. Vì Xử Thử chủ quản sự việc sau Hạ Chí, nên khởi tính Xử Thử từ 3, tức là lấy Giáp Tý của khí sau Xử Thử khởi từ 3, theo chiều nghịch, Ất Sửu 2, Bính Dần 1, Đinh Mão 9, Mậu Thìn 8, Kỷ Tỵ 7, Canh Ngọ 6, Tân Mùi 5, Nhâm Thân 4.
Phàm mọi tiết khí trước Đông Chí đều lấy âm nghịch Hạ Chí làm mốc tính toán; mọi tiết khí trước Hạ Chí đều lấy âm dương Đông Chí lám mốc tính toán. Theo đó, một ngày trước Đông Chí là ngày Giáp Tý, vì ngày đó chưa bước sang tiết Đông Chí, nên vẫn do khí Sương Giáng trước đó quản, vậy Giáp Tý là 6. Mà ngày Ất Sửu là ngày Đông Chí, nên Ất Sửu phải lấy Giáp Tý Đông Chí mà tính là 2.
Có người sẽ hỏi: Tính như thế có thoát tiết vì số không liên tục hay chăng? Đáp: Không hề, đây là sự khác biệt về Âm Dương, đừng nói chênh một ngày, dù chênh một phút cũng phải tính như vậy, cho nên dặn đi dặn lại người học phải thận trọng ở điểm này.
[/I][/I][/I][/B][/B]
Trên kia chúng ta đã xét cách phi tinh theo Vận, Phần này tiếp tục xem xét cách phi tinh theo năm tháng ngày giờ...
1/ Theo năm :
Khẩu quyết Tử Bạch khởi niên nói: “Thượng nguyên Giáp Tý Nhất Bạch khởi, Trung nguyên Tứ Lục thôi Giáp Tý, Hạ nguyên Thất Xích Đoài vị tầm, trục niên tinh nghịch trung cung thủy”. Thượng nguyên gồm 3 vận 1, 2, 3; Trung nguyên gốm 3 vận 4, 5, 6; Hạ nguyên gồm 3 vận 7, 8, 9.
Lấy ví dụ muốn biết năm 1988 Mậu Thìn thì sao nào trong cửu tinh quản cục và nhập trung cung.
Trước hết ta xem năm 1988 nằm ở nguyên nào. Tra bảng thì thấy năm 1988 nằm ở vận 7 Hạ nguyên (từ 1984 đến 2003)
Sau đó đối chiếu với khẩu quyết, biết “Hạ nguyên Thất Xích Đoài vị tầm”, tức là Hạ nguyên 7 Xích tìm ở cung Đoài, lấy đó làm mốc. Sau đó tính nghịch vì khẩu quyết "trục niên tinh nghịch trung cung thủy".
Bây giờ muốn tính năm Mậu Thìn 1988 thì lấy Giáp tý 1984 an vào cung Thất Xích ở Đoài, rồi tính nghịch, thì Ất Sửu (1985) là Lục Bạch, Bính Dần (1986) là Ngũ Hoàng (Trung), Đinh Mão (1987) là Tứ Lục, Mậu Thìn (1988) là Tam Bích.
Vậy năm Mậu Thìn thì sao Tam Bich quản cục, vậy đem Tam Bích nhập trung làm chuẩn, tiếp đó phi đến 8 cung còn lại theo chiều thuận.
Sau đây là bảng niên tinh cho vân 7 và vận 8
Có một kinh nghiệm phi tinh theo năm như sau :
xác định sao nhập Trung cung, tính theo Phi cung của Nam giới là tiện và dễ nhớ nhất. Ví dụ năm 2008 , nam nhân có phi cung là Khảm, điều này Chắc huynh biết tính rồi phải không? Vì thế Nhất bạch sẽ nhập trung cung.
Chỉ có ngoại trừ, trường hợp tổng cộng các số của năm sinh bằng 6 có khác một chút: Sao nhập trung cung không phải là Nhị lắc mà là Sao Ngũ hoàng số 5.
Ví dụ:
- Năm 2008: Tổng các số năm sinh là: 2 = 8 = 10 -9 = 1 > Phi cung khảm, nên Nhất bạch nhập trung cung;
- Năm 2009: Tổng các số năm sinh là: 2+9 = 11 -9 = 2 > Phi cung Ly, nên Cửu tử nhập trung cung;
- Năm 2010: Tổng các số năm sinh là: 2+1 = 3 > Phi cung là Cấn, nên bát bạch 8 nhập trung cung;
- Năm 2011: Tổng các số năm sinh là 2+1+1 = 4 > Phi cung là Đoài, nên thất tinh nhập Trung cung.
- Năm 2012: Tổng các số năm sinh là: 2+1+2 = 5 > Phi cung là Càn, nên lục bạch 6 nhập trung cung.
- Năm 2013, tổng các số của năm sinh là: 2+1+3 = 6 > Tuy phi cung là Khôn, nhưng, đây là trường hợp đặc biệt, lùi về Trung cung, Ngũ hoàng nhập trung cung số 5 (Đây là trường hợp đặc biệt);
2/ Phi tinh theo tháng:
khẩu quyết Tử Bạch Khởi Nguyệt như thế này: [B]"Tý Ngọ Mão Dậu Bát Bạch cung; Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng Trung; Dần Thân Tỵ Hợi cư hà vị, nghịch tầm Nhị Hắc thị kỳ tông”.
Theo khẩu quyết Tử Bạch khởi Nguyệt áp dụng cho tháng âm lịch thì:
- Những năm Tý Ngọ Mão Dậu thì khởi sao Bát Bạch ở tháng Giêng (tháng 1 âm lịch), sau đó phi nghịch cho những tháng kế tiếp
- Những năm Sửu Mùi Thìn Tuất thì khởi sao Ngũ Hoàng ở tháng Giêng
- Những năm Dần Thân Tỵ Hợi thì khởi sao Nhị Hắc ở tháng Giêng
Ví dụ năm 2011 là năm Tân Mão:
- Tháng Giêng: Bát Bạch (8)
- Tháng hai: Thất Xích (7)
- Tháng ba: Lục Bạch (6)
- Tháng tự: Ngũ Hoàng (5)
- Tháng năm: Tứ Lục (4)
- Tháng sáu: Tam Bích (3)
- Tháng bảy: Nhị Hắc (2)
- Tháng tám: Nhất Bạch (1)
- Tháng chín: Cửu Tía (9)
- Tháng mười: Bát Bạch (8)
- Tháng mười một: Thất Xích (7)
- Tháng chạp: Lục Bạch (6)
Qua năm kế tiếp là năm Thìn, ta cứ việc đếm tiếp:
- Tháng Giêng: Ngũ Hoàng (5)
- Tháng hai: Tứ Lục (4)
- Tháng ba: Tam Bích (3)
......
Nếu coi lại khẩu quyết Tử Bạch Khởi Nguyệt thì thấy trùng hợp với câu quyết "Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng Trung", tháng Giêng của năm Thìn thì sao Ngũ Hoàng nhập trung cung.
[B]3/ Phi tinh theo Ngày :
khẩu quyết tử Bạch khởi nhật, “Bảo Hải Kinh” viết: “Nhật gia Bách pháp bất nan cầu, Nhị thập tứ khí Lục cung chu, Đông Chí Vũ Thủy cập Cốc Vũ, dương thuận Nhất Thất Tứ Trung du, Hạ Chí Xử Thử Sương Giáng hậu. Cửu Tam Lục tinh nghịch hành cầu”.
Lại có khẩu quyết: “Đông Chí Nhất Thất Tứ, Hạ Chí Cửu Tam Lục. Dương thuận Đông Chí hậu, âm nghịch thôi Hạ Chí”.
[I]Ghi chú:
[I]Đông Chí Vũ Thủy cập Cốc Vũ dương thuận Nhất Thất Tứ Trung du, nghĩa là từ Đông Chí đến cuối Lập Xuân thì an Nhất (1) tại trung cung phi thuận; từ Vũ Thủy đến cuối Thanh Minh thì an Thất (7) tại trung cung phi thuận; từ Cốc Vũ đến cuối Mang Chủng thì đưa Tứ (4) vào trung cung phi thuận.
[I]Hạ Chí Xử Thử Sương Giáng hậu. Cửu Tam Lục tinh nghịch hành cầu, nghĩa là từ Hạ Chí đến cuối Lập Thu thì an Cửu (9) tại trung cung sau đó phi nghịch; từ Xử Thử đến cuối Hàn Lộ thì an Tam (3) tại trung cung sau đó phi nghịch; từ Sương Giáng đến cuối Đại Tuyết thì an Lục (6) tại trung cung sau đó chuyển nghịch.
Cách này trước hết tra ngày theo Lục thập hoa giáp, xem ngày ấy thuộc khí nào trong Tam nguyên Cửu vận, ngày theo Lục thập hoa giáp không luận tiết mà luận khí. Ví dụ ngày Giáp Tuất sau Vũ Thủy, ắn an Vũ Thủy từ 7, khởi Giáp Tý từ 7, theo chiều thuận trên bàn tay: Ất Sửu tại 8, Bính Dần 9, Đinh Mão 1, Mậu Thìn 2, Kỷ Tỵ 3, Canh Ngọ 4, Tân Mùi 5, Nhâm Thân 6, Quý Dậu 7, Giáp Tuất 8. Biết Vũ Thủy là tính thuận, ngày Giáp Tuất là ngày 8 nhập Trung cung.
Hoặc muốn tính ngày Nhâm Thân sau Xử Thử. Vì Xử Thử chủ quản sự việc sau Hạ Chí, nên khởi tính Xử Thử từ 3, tức là lấy Giáp Tý của khí sau Xử Thử khởi từ 3, theo chiều nghịch, Ất Sửu 2, Bính Dần 1, Đinh Mão 9, Mậu Thìn 8, Kỷ Tỵ 7, Canh Ngọ 6, Tân Mùi 5, Nhâm Thân 4.
Phàm mọi tiết khí trước Đông Chí đều lấy âm nghịch Hạ Chí làm mốc tính toán; mọi tiết khí trước Hạ Chí đều lấy âm dương Đông Chí lám mốc tính toán. Theo đó, một ngày trước Đông Chí là ngày Giáp Tý, vì ngày đó chưa bước sang tiết Đông Chí, nên vẫn do khí Sương Giáng trước đó quản, vậy Giáp Tý là 6. Mà ngày Ất Sửu là ngày Đông Chí, nên Ất Sửu phải lấy Giáp Tý Đông Chí mà tính là 2.
Có người sẽ hỏi: Tính như thế có thoát tiết vì số không liên tục hay chăng? Đáp: Không hề, đây là sự khác biệt về Âm Dương, đừng nói chênh một ngày, dù chênh một phút cũng phải tính như vậy, cho nên dặn đi dặn lại người học phải thận trọng ở điểm này.
[/I][/I][/I][/B][/B]
Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
