![]() |
|
Tường Phái Huyền Không - Printable Version +- LÝ SỐ VIỆT (https://lysoviet.vn) +-- Forum: HỘI QUÁN (https://lysoviet.vn/forumdisplay.php?fid=5) +--- Forum: Hội quán Phong Thủy (https://lysoviet.vn/forumdisplay.php?fid=18) +--- Thread: Tường Phái Huyền Không (/showthread.php?tid=711) |
Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 Huyền không [INDENT]玄 Huyền= Mầu đen sâu kín, huyền diệu ,mầu nhiệm. 空 Không = Trống không, thấy không có gì cả. Huyền không là Không gian vũ trụ , không nhìn thấy gì nhưng vô cùng huyền diệu. Đây là môn học nghiên cứu về những ảnh hưởng của các vì sao, những tinh tú trong vũ trụ tác động đến sự sống trên địa cầu, gọi chung đó là Thiên khí. Vũ trụ luôn vận động, tuy vậy bằng những quan sát thực tiễn và trải hàng ngàn năm con người đã đúc rút ra được những quy luật vận hành cũng như ảnh hưởng của bầu không gian vũ trụ bao la đối với sự sống trên trái đất . Gần nhất, dễ thấy nhất đó là Nhật - Mặt trời, Nguyệt- Mặt trăng , xa hơn chút nữa là các hành tinh trong hệ mặt trời như các sao Kim ,Mộc, Hỏa, Thủy ,Thổ...Và còn xa hơn nữa là các ngôi sao trong thiên hà ... Chương trọng Sơn nói:” Vô định, vô cứ, không phương hướng, không góc cạnh, không khởi đầu, không kết thúc, không hình thể, không dấu vết, tồn tại khắp nơi, không lúc nào không có. Đấy gọi là Huyền Không” Bàn về vòng Lượng thiên xích, sách "Trạch vận tân án" có viết: Thùy đắc Lượng thiên Xích nhất chi, Bộ lường trung, ngoại cổ kim thi, Tử sinh đắc thất tùy thám sách, Quá hiện vị lai liễu liễu tri Tạm dịch: Nếu đã nắm được vòng Lượng thiên Xích, Có thể đo lường mọi chuyện trong, ngoài xưa nay, Tìm hiểu được sự sống chết và được mất, Biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai. Cho nên Huyền không địa lý là môn khoa học dựa vào sự di chuyển của 9 ngôi sao ( cửu tinh ) theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Lạc thư mà đoán định sự thịnh, suy, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch). Lạc thư và Lường thiên xích Hãy coi thử ma phương sau: [IMG]file:///C:/DOCUME~1/Admin/LOCALS~1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.jpg[/IMG] Tổng số của các cạnh hay đường chéo đều bằng 15. Đây chính là cân bằng của vũ trụ Lạc Thư: Lạc Thư có 9 số. Số lẻ là số trời hay dương số. Tồng số các số lẻ 1+3+5+7+9 = 25. Số chẵn là số đất. Tổng số các số chẵn là 2+4+6+8 = 20. Lạc thư vận hành khởi từ Thủy qua đến Hỏa, vì Thủy khắc Hỏa, Hỏa lên Kim, vì Hỏa khắc kim, đến Mộc vì Kim khắc Mộc, vào Thổ, vì Mộc khắc Thổ, rồi lại về Thủy, vì Thổ khắc Thủy. [IMG]file:///C:/DOCUME~1/Admin/LOCALS~1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.jpg[/IMG] Hậu Thiên Bát Quái : Dựa vào lạc thư, sau này vua Văn Vương nhà Chu mới đổi lại phương vị của 8 quẻ trong Tiên Thiên Bát Quái theo với ý nghĩa và phương vị của 9 số trên Lạc Thư mà đặt ra Hậu Thiên Bát Quái (các chữ số là số của Lạc Thư và cũng là số quẻ Hậu Thiên) Từ Lạc thư và Hậu thiên bát quái là gốc, Vũ trụ vận động thể hiện qua cửu tinh theo quy luật sau : Lường thiên xích Thuận (1) Từ trung cung xuống TÂY BẮC. (2) Từ TÂY BẮC lên TÂY. (3) Từ TÂY xuống ĐÔNG BẮC. (4) Từ ĐÔNG BẮC lên NAM. (5) Từ NAM xuống BẮC. (6) Từ BẮC lên TÂY NAM. (7) Từ TÂY NAM sang ĐÔNG. (8) Từ ĐÔNG lên ĐÔNG NAM. (9) Từ ĐÔNG NAM trở về trung cung. [URL="http://tuvilyso.net/forum/uploads/lancongtu/2010-12-10_101124_LuongThienXich_Nghich.JPG"] [/URL] (1) Từ trung cung lên ĐÔNG NAM (2) Từ ĐÔNG NAM xuống ĐÔNG (3) Từ ĐÔNG lên TÂY NAM (4) Từ TÂY NAM xuống BẮC (5) Từ BẮC lên NAM. (6) Từ NAM xuống ĐÔNG BẮC. (7) Từ ĐÔNG BẮC sang TÂY. (8) Từ TÂY xuống TÂY BẮC. (9) Từ TÂY BẮC trở về trung cung. Cửu tinh và ý nghĩa - Số 1: Nhất bạch hay tham lang: Đệ nhất cát tinh. Nếu đương vượng mà hình thế loan đầu có thủy động thì khoa cử đỗ đạt, sinh con trai thông minh trí tuệ. Nếu suy tử thì hại vợ, không thọ, cuộc đời trôi nổi, mang nhiều bệnh tậ về huyết, thận hư... * về ngũ hành: thuộc thuỷ * Về màu sắc: màu trắng * Về cơ thể : Thận, tai, máu huyết * về người : con trai thứ * về tính chất : thuộc dương - Số 2 : Nhị hắc hay cự môn : Hung tinh. Nếu vượng thì giàu có, điền sản phát mạnh, nhân khẩu hưng vượng lại phát quí về binh nghiệp. Nếu suy tử thì vợ đoạt quyền chồng, tính tình nhỏ nhen, thâm hiểm, keo kiệt, khó sinh đẻ, có bệnh về bụng. Trong nhà thường phát sinh bệnh hoạn liên miên. * về ngũ hành: thuộc thổ * Về màu sắc: màu đen * Về cơ thể : bụng và dạ dày * về người: mẹ hoặc vợ trong gia đình * về tính chất : thuộc âm - Số 3 : Tam bích hay lộc tồn : Hung tinh. Nếu vượng thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng, con cái dòng trưởng rất hưng thịnh. Nếu suy tử thì người nhà dễ bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, khắc vợ, kiện tụng thị phi hoặc trở thành trộm cướp. * về ngũ hành: thuộc mộc * Về màu sắc: màu xanh lá cây * Về cơ thể : mật, vai và tay * về người: con trai trưởng * về tính chất : thuộc dương - Số 4 : Tứ lục hoặc văn xương : Cát tinh. Vượng thì văn chương lừng danh, khoa cử đỗ đạt, con gái dung mạo đoan trang lấy được con nhà quyền quí. Nếu suy tử thì phụ nhân dâm loạn, đàn ông đam mê tửu sắc, gia sản phá hoại, phải lang thang phiêu bạt. * về ngũ hành: thuộc mộc * Về màu sắc: màu xanh dương * Về cơ thể : đùi và 2 chân * về người: con gái trưởng * về tính chất : thuộc âm - Số 5 : Ngũ hoàng hoặc Liêm trinh :Đạt sát tinh. Vượng thì tài đinh đại phát. Nếu suy tử thì bất kể được sinh hay bị khắc đều rất xấu ví vậy nó tịnh không nên động. Nếu gặp sao thái tuế tới thì tính hung càng phát mạnh làm tổn đinh, phá tài , nhẹ thì ốm đau, nặng thì mất người * về ngũ hành: thuộc thổ * Về màu sắc: màu vàng * Về cơ thể : không * về người: không - Số 6 : Lục bạch hoặc vũ khúc : Cát tinh. Vượng thí quyền uy , làm võ tướng thì công trạng hiển hách, gia đình giáu có, nhiều nhân đinh. Nếu suy tử thì cô độc hoặc chết trong binh đao, người nhà thường góa bụa, có nhiều quả phụ. * về ngũ hành: thuộc kim * Về màu sắc: màu trắng bạc * Về cơ thể : đầu, mũi, cổ, xương, ruột già * về người: cha hoặc chồng trong gia đình * về tính chất : thuộc dương - Số 7 : Thât xích hoặc phá quân : tặc tinh. Vượng thì phát về võ quyền, đinh tài đều vượng. Nếu suy thì trong nhà xuất hiện trộm cướp hoặc có người chết trận hay bị giam cầm, gia đạo không yên có thể bị hỏa tai mà tổn đinh hoặc xuất hiện người ham mê tửu sắc * về ngũ hành: thuộc kim * Về màu sắc: màu đỏ * Về cơ thể : phổi, miệng, lưỡi * về người: con gái út * về tính chất : thuộc âm - Số 8 : Bát bạch hoặc tả phù: Cát tinh. Vượng thì trung hiếu, phú quí dài lâu, con cháu được hưởng phúc lộc của tổ tiên. Suy tử thì có tổn thương nhỏ hoặc bị bệnh dịch * về ngũ hành: thuộc thổ * Về màu sắc: màu trắng * Về cơ thể : lưng, ngực và lá lách. * về người: con trai út * về tính chất : thuộc dương - Số 9 : Cửu tử hay hữu bật : trung tính. vượng thì văn chương lừng lẫy, con cháu dòng giữa được hưởng phú quí. Suy thì hỏa tai hoặc tai họa chốn quan trường, bị bệnh về máu huyết, thần kinh, mắt hoặc sanh đẻ khó. * về ngũ hành: thuộc hoả * Về màu sắc: màu đỏ tía * Về cơ thể : mắt, tim, ấn đường * về người: con gái giữa * về tính chất : thuộc âm [/INDENT] Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 Thời gian Thời gian là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của cá nhân và xã hội. Thời gian là phương tiện để dựng lại và và ghi chép quá khứ, dùng trong tổ chức sản xuất, quản lý xã hội trong sinh hoạt văn hóa và giao tiếp... Vũ trụ luôn vận động, và để dựng lại mô hình vũ trụ trong quá khứ , người ta phải dựa vào thời gian. Đơn vị thời gian từ nhỏ nhất là Nano giây, microng giây... đến ngày tháng năm rồi Vận , Nguyên, Hội v,v Dịch học không chỉ phát hiện ra sự đồng nhất thể giữa cuộc đời 1 con người với từng vị trí Không-thời gian mà còn khám phá ra sự đồng nhất giữa 1 ngày, một năm, một vòng vũ trụ với 1 vòng đời của mọi sinh vật. Thời gian diễn ra trong một ngày cũng giống như một năm, một Kỷ nguyên ( 129 600 năm) v.v...Cái lý tận cùng của sự đồng nhất này là nguyên lý âm dương. nghía là cái sự thăng giáng tuần hoàn lêncungf cực rồi lại xuống , xuống cùng cực rồi lại lên... cứ thế lặp đi lặp lãi mãi. Thời gian của 1 ngày là chu kỳ vòng quay của địa cầu xung quanh trục của nó. Thời gian của 1 tháng là chu kỳ vòng quay của mặt trăng quanh địa cầu Thời gian của 1 năm là chu kỳ vòng quay của địa cầu xung quanh mặt trời. Thời gian của 1 Vận = 20 năm. Thời gian của một Nguyên bao gồm 3 phần Thựong - Trung- Hạ nguyên = 9 vận = 180 năm. Thời gian của một Hôi = 60 nguyên = 10 800 năm Thời gian của Một Kỷ nguyên = 12 Hội = 129 600 năm. ...... Rồi lại có hệ số nhân 3 ( tam tài ) rồi lại nhân hệ số 60 ( Hoa giáp ) rồi lại nhân hệ số 12 ( địa chi ) ta dựoc thời gian chu kỳ 1 vòng của Hệ mặt trời quay quanh Tâm của Thiên hà chúng ta.( thường gọi là Ngân Hà ) Khoảng 280 triệu năm. Vân vân và vân vân ... và Thiên hà của chúng ta lại xuay quanh tâm của Hệ Thiên hà ( galaxy ) Rồi Galaxy lại quay quanh tâm của vũ trụ., Rồi Vũ trụ này lại quay quanh ...1 cái gì nữa thì chưa biêt ? ! Không gian Cách đây hơn 100 năm Nhà toán học người Đức Bergado Riman khi nghiên cứu vũ trụ đã đưa ra Định nghĩa về Không gian như sau : " Không gian, đó là tập hợp liên tục những đối tượng đồng nhất bất kỳ " . Ông là người đã mở ra môn Hình học vũ trụ Theo Ông, con người là một đối tượng của Không gian. từ khi sinh ra , tồn tại và phát triển... mọi hành động và suy nghĩ của Họ đều đồng nhất với Không gian. Nếu thiếu sự đồng nhất, con người sẽ bị loại khỏi Không gian. Ngay từ xa xưa các Nhà Dich học cũng nhận thức được điều này và đã tổng kết : " Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ". Sự tương đồng về Thanh về Khí của vạn vật tạo ra sự tồn tại vĩnh hằng bên nhau và vì nhau . Khi hòa đồng với nhau, chỉ cần một một đại lượng không đồng nhất thì thực thể hỗn tạp đó sẽ nảy sinh vấn đề và có thể sẽ không còn tồn tại . Khi nhận thức được sự huyền diệu của Nguyên lý đồng nhất thể trong vũ trụ này, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi thấy những điều kỳ lạ của các nhà Yoga, Những phép thuật của các Pháp sư... cũng như Những điều mà Khoa học hiện đại coi là Bí ẩn chưa giải thích được . Không gian vô cùng rộng lớn, nhưng để nghiên cứu nó người ta quy về Tọa độ cầu ,lấy điểm gốc là Đối tượng đang tồn tại và đang cần nghiên cứu . Tọa độ Cầu được xác định bởi 3 đại lượng :Góc Phương vị, góc nghiêng và khoảng cách từ gốc tọa độ đến đối tượng . Người xưa cũng dùng Tọa độ cầu, nhưng chia mặt phẳng chứa góc phương vị thành 8 phương và trong mỗi phương lại chia làm 3 phần nhỏ gọi là Sơn hướng, mỗi Sơn hướng 15 độ, vậy tổng số có 24 Sơn hướng .Ngoài 8 phương trong mặt phẳng quỹ đạo ra còn có thêm 2 phương nữa là Trên và dưới. Tổng cộng là 10 phương. như trong câu tổng kết : " 8 phương trời,10 phương đất " Từ đây Huyền không dùng 8 phương trời ( gồm 24 sơn hướng ) và 1 gốc ( ở trung cung ) để xác định vị trí của Cửu tinh . Đồ hình Thiên bàn gốc- Cửu tinh và 8 phương ( 24 sơn hướng ) ![]() Phi tinh Từ Thiên bàn gốc, cửu tinh xoay vần theo thời gian và theo Quy luật Thuận nghịch của Lường thiên xích. * Vận bàn : Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận *Hướng bàn:Sau khi có vận bàn ta lấy số ở Hướng cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy cùa sao ấy (xác định theo Tam nguyên long). *Sơn bàn:Sau khi có vận bàn ta lấy số ở Tọa cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy của sao ấy(xác định theo Tam nguyên long). Tam nguyên long: Tam nguyên long gồm có : Thiên nguyên long, nhân nguyên long và địa nguyên long * THIÊN NGUYÊN LONG: có 8 sơn : - 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN. - 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU. * ĐỊA NGUYÊN LONG: có 8 sơn: - 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH. - 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI. * NHÂN NGUYÊN LONG: có 8 sơn: - 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI. - 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ. Nếu (- ) thì sao bay nghịch, nếu (+) thì sao bay thuận. Nhìn vào đồ hình thiên bàn gốc và những dấu âm dương ta có thể thấy Quy luật khi phi tinh sơn bàn và hướng bàn : - lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung. - Nếu là thiên hoặc nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch. - Nếu là địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận Trường hợp tọa hay hướng gặp sao số 5 nhập Trung cung: Tùy theo tọa hay hay là sơn thuộc Ðịa, Thiên hay Nhân, chiều của Lường-Thiên-Xích trong trường hợp số 5 nhập Trung-cung tùy thuộc các vận 20 năm trong Tam-Nguyên Cửu-Vận theo như dưới đây: 1. Vận 1: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch. 2. Vận 2: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận 3. Vận 3: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch 4. Vận 4: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận 5. Vận 6: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận 6. Vận 7: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch 7. Vận 8: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận 8. Vận 9: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 Một số ví dụ cụ thể : [B]* Ví dụ 1 : Ví dụ này được trích lại và bổ khuyết từ sách Bát trạch - Huyền Không của Kép Nhựt - Lập Vận bàn: Căn nhà bắt đầu có người tới ở năm 1987 (vận 7), hướng 106 độ... Tức là Tọa Tân hướng Ất kiêm Tuất Thìn 1 độ thì Vận bàn được xắp xếp theo Lường-Thiên-Xích thuận của khoa Huyền-không cổ-truyền với Vận của Trung-cung là số 7 như trong thí dụ này là: 1. Vận của Trung-cung là số 7 là sao Thất-xích. 2. Vận của cung Càn là số 8 là sao Bát-bạch. 3. Vận của cung Ðoài là số 9 là sao Cửu-tử. 4. Vận của cung Cấn là số 1 là sao Nhất-bạch. 5. Vận của cung Ly là số 2 là sao Nhị-hắc. 6. Vận của cung Khảm là số 3 là sao Tam-bích. 7. Vận của cung Khôn là số 4 là sao Tứ-lục. 8. Vận của cung Chấn là số 5 là sao Ngũ-hoàng. 9. Vận của cung Tốn là số 6 là sao Lục-bạch. - Lập Sơn bàn: Tọa là Tân ở cung Ðoài (Tây) mà Vận ở cung này là 9 ta ghi số 9 vô Tọa (số nhỏ bên trái) của Trung-cung. Tân thuộc về Nhân-nguyên. Số 9 là số của cung Nam-Ly nên dựa theo sơn thuộc Nhân nguyên của cung này là Ðinh-Âm nên dùng Lường-Thiên-Xích nghịch để xếp tọa bàn: 1. Tọa của Trung-cung là số 9 là sao Cửu-tử. 2. Tọa của cung Tốn là số 1 là sao Nhất-bạch. 3. Tọa của cung Chấn là số 2 là sao Nhị-hắc. 4. Tọa của cung Khôn là số 3 là sao Tam-bích. 5. Tọa của cung Khảm là số 4 là sao Tứ-lục. 6. Tọa của cung Ly là số 5 là sao Ngũ-hoàng. 7. Tọa của cung Cấn là số 6 là sao Lục-bạch. 8. Tọa của cung Ðoài là số 7 là sao Thất-xích. 9. Tọa của cung Càn là số 8 là sao Bát-bạch. - Lập Hướng bàn: Hướng là Ất ở cung Chấn (Đông) mà Vận ở cung này là 5 ta ghi số 5 vô Hướng (số nhỏ bên phải) của Trung cung. Ất thuộc về Nhân-Nguyên. Số 5 nằm tại Trung cung thuộc vận 7 nên dùng Lường Thiên Xích nghịch để xếp hướng bàn. 1. Tọa của Trung cung là số 5 là sao Ngũ Hoàng 2. Tọa của cung Tốn là số 6 là sao Lục-bạch. 3. Tọa của cung Chấn là số 7 là sao Thất-xích. 4. Tọa của cung Khôn là số 8 là sao Bát-bạch. 5. Tọa của cung Khảm là số 9 là sao Cửu-tử. 6. Tọa của cung Ly là số 1 là sao Nhất-bạch. 7. Tọa của cung Cấn là số 2 là sao Nhị-hắc. 8. Tọa của cung Ðoài là số 3 là sao Tam-bích. 9. Tọa của cung Càn là số 4 là sao Tứ-lục. ![]() [/B]Ví dụ 2 :Nhà tọa Mùi hướng SỬU, nhập trạch trong vận 8. [/url] ![]() Ví dụ 3 : nhà tọa Cấn hướng KHÔN, nhập trạch trong Vận 8. [url=http://www.phongthuyhoangdien.com/images/Post/phanngamphucngam/can-khon-v8.jpg] ![]() Trong 2 ví dụ trên có thể thấy trường hợp đặc biệt khi sao Ngũ hoàng ( số 5 ) nhập trung cung sẽ xẩy ra hiện tương Phản ngâm hay Phục ngâm : Trường hợp có Phản Ngâm hay Phục Ngâm xảy ra là khi an Vận bàn cho 1 căn nhà, Vận tinh số 5 sẽ tới Hướng hay tọa của căn nhà đó. Nếu đem số 5 đó nhập trung cung xoay nghịch (để thiết lập Sơn bàn hoặc Hướng bàn), thì những số tới 8 cung sẽ đối nghịch với số nguyên thủy của địa bàn (hay cộng với số nguyên thủy của địa bàn thành 10). Trường hợp này được gọi là “PHẢN NGÂM” (Phản: tức là phản đối hoặc xung khắc). Nếu vận tinh số 5 đó nhập trung cung xoay thuận, thì những số tới 8 cung sẽ giống như những số nguyên thủy của địa bàn. Trường hợp này được gọi là “PHỤC NGÂM” (Phục: tức là tăng áp lực lên vì cùng 1 số ).Riêng với “Phản, Phục ngâm” thì ngoài những trường hợp do Vận tinh số 5 của Tọa hoặc Hướng nhập trung cung xoay chuyển thuận hay nghịch mà tạo ra thì có 1 số trường hợp khác như sau: -Vân tinh và Hướng tinh trong cùng 1 cung (hay trong tất cả 8 cung) đều cùng 1 số. Đây là trường hợp Hướng tinh Phục ngâm. Thí dụ: nhà tọa TUẤT hướng THÌN kiêm CÀN-TỐN 4 độ, nhập trạch trong vận 2. Nếu an Vận bàn thì lấy số 2 nhập trung cung xoay thuận thì 3 đến TÂY BẮC, 4 đến TÂY, 5 đến ĐÔNG BẮC, 6 đến NAM, 7 đến BẮC, 8 đến TÂY NAM, 9 đến ĐÔNG, và 1 đến ĐÔNG NAM. Tuy Vận tinh số 1 đến hướng, nhưng vì nhà này kiêm nhiều, nên phải dùng số 2 làm Thế quái, nhập trung cung xoay thuận (vì nhà Hướng THÌN thì trùng với sơn NHÂM của số 1, thuộc dương trong Tam nguyên Long) thì 3 đến TÂY BẮC, 4 đến TÂY, 5 đến ĐÔNG BẮC, 6 đến NAM, 7 đến BẮC, 8 đến TÂY NAM, 9 đến ĐÔNG, 1 đến ĐÔNG NAM. Tức là tại mỗi vị trí thì những số của Vận tinh và Hướng tinh đều giống nhau (hay cùng 1 số). -Vận tinh và Sơn tinh trong cùng 1 cung (hay trong tất cả 8 cung) đều giống nhau (hay cùng 1 số). Đây là trường hợp Sơn tinh Phục ngâm. -Sơn tinh và Hướng tinh trong cùng 1 cung (hay trong tất cả 8 cung) đều giống nhau (hay cùng 1 số). Đây là trường hợp cả Sơn-Hướng tinh đều bị Phục ngâm. Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 "Tam Ban Xảo Quái Trong những cách cục có thể giúp cho trạch vận của căn nhà được lâu dài, bền bỉ thì ngoài cách “Hợp Thập” còn có những cách cục “Tam ban quái”. Nói “Tam ban quái” là vì trong toàn trạch bàn, các vận-sơn-hướng tinh tại mỗi cung hoặc là nối liền nhau thành 1 chuỗi như 1-2-3, 2-3-4, 3-4-5, 4-5-6, 5-6-7, 6-7-8, 7-8-9, 8-9-1, 9-1-2, hoặc là tạo thành những chuỗi số cách đều nhau 3 số như 1-4-7, 2-5-8, 3-6-9. Cách có những chuỗi số nối liền nhau được gọi là “Tam ban quái”, còn cách có những chuỗi số cách đều nhau 3 số được gọi là “Phụ mẫu Tam ban quái”. Trong “Phụ mẫu Tam ban quái” còn được chia ra làm 2 loại là “Thất tinh đả kiếp” và “Tam ban Xảo quái”. Riêng trong mục này chỉ xin bàn qua “Tam ban Xảo quái” mà thôi. ![]() Nếu lập trạch vận thì ta thấy tất cả các cung đều có 1 trong 3 cặp số 1-4-7, 2-5-8 hay 3-6-9, cho nên căn nhà này toàn bàn là cuộc Tam ban quái, và được coi là đắc “Tam ban Xảo quái”. Vì cách cục như trên là rất hiếm, nên trong tổng số 1944 cách cục của Phi tinh thì chỉ có 16 cách là hội đủ điều kiện của “Tam ban Xảo quái” như sau: - Nhà tọa CẤN hướng KHÔN: trong các vận 2, 5 và 8. - Nhà tọa KHÔN hướng CẤN: trong các vận 2, 5 và 8. - Nhà tọa DẦN hướng THÂN: trong các vận 2, 5 và 8. - Nhà tọa THÂN hướng DẦN: trong các vận 2, 5 và 8. - Nhà tọa SỬU hướng MÙI: trong các vận 4 và 6. - Nhà tọa MÙI hướng SỬU: trong các vận 4 và 6. Đối với Huyền không Phi tinh, những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” được coi là kỳ diệu, vì chẳng những là mỗi con số được cách nhau 3 số, “giống như 1 chuỗi ngọc đính liền nhau, (thuận hay nghịch đều cách 3), hoàn toàn tự nhiên, không chút gượng ép” như Trạch vận Tân án đã nói, mà còn vì trong 3 cặp số đó, mỗi cặp đều có 1 số tiêu biểu cho Thượng Nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên. Như 1-4-7 thì 1 là số của Thượng nguyên, 4 là số của Trung nguyên, 7 là số của Hạ nguyên. Với cặp 2-5-8 thì 2 là số của Thượng nguyên, 5 là số của trung nguyên, 8 là số của Hạ nguyên. Với cặp 3-6-9 thì 3 là số của Thượng nguyên, 6 là số của Trung nguyên, 9 là số của Hạ nguyên. Các số 1-4-7 lại đều là những số khởi đầu của Tam nguyên, 2-5-8 đều là những số giữa, 3-6-9 đều là những số cuối, nên vừa có thể làm cho tương thông (hay thông khí) hết cả 3 Nguyên, lại vừa không bị rối loạn hoặc pha tạp. Những cặp số có thể làm thông khí cả Tam Nguyên há không phải là lâu dài hay sao? Lại không bị rối loạn hoặc pha tạp, há không phải là quý khí hay sao? Cho nên những nhà đắc được cuộc “Tam ban Xảo quái” chẳng những vận khí sẽ rất lâu dài trong suốt Tam Nguyên Cửu Vận, mà vì còn đắc quý khí, nên nếu biết cách xử dụng thì dòng họ đời đời sẽ phú quý, danh gia vọng tộc. Nếu không biết cách xử dụng thì cũng chỉ bình thường, thậm chí có thể mang lấy nhiều tai họa tùy theo từng trường hợp. Những trường hợp Tam Ban Quái phát sinh tai họa Tuy một số nhà đắc cách “Tam ban Xảo quái” chẵng những đã không gặp được điều gì tốt lành, lại bị nhiều tai họa liên tiếp xảy ra, hại người tốn của... là do những nguyên nhân sau đây: 1) Nhà thường chỉ có cửa trước, chứ không có cửa sau. Lý do là vì những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” hầu như bao giờ cũng gặp trường hợp “Thượng Sơn, Hạ Thủy”, vượng tinh của Hướng sẽ tới phía sau nhà, còn vượng tinh của Sơn sẽ tới phía trước. Nếu phía sau nhà không có cửa hoặc hồ tắm... thì vượng tinh của Hướng đã bị “Thượng Sơn”, nên tài lộc sẽ gặp nhiều khó khăn, bế tắc. Nếu như phía trước nhà đã có cửa mà còn trống, thoáng, thì vượng tinh của Sơn đã bị “Hạ thủy”, chủ phá bại về nhân đinh. Đó là chưa kể trong 16 cách cuộc đắc “Tam ban Xảo quái” thì đa số lại còn bị Phản-Phục Ngâm, nên làm sao tránh được tai họa? Cho nên tối thiểu là nhà phải có cổng, cửa, hay thủy tại khu vực có vượng khí của Hướng tinh, dùng cách “Nhất chính đương quyền” để hóa giải những cuộc “Thượng Sơn, Hạ Thủy” và Phản-Phục ngâm thì mới có thể tránh được tai họa (nên nhớ là cách “Thượng Sơn, Hạ Thủy” của Phi tinh chỉ là về hình thức, tức là vì Hướng tinh chiếu tới phía sau nhà, nên trên danh nghĩa thì nó đã bị “lên núi” tức “Thượng Sơn”. Nhưng nếu phía sau nhà có thủy hoặc cửa ra vào thì nó đã “gặp nước”, nên biến thành cách “Đáo Hướng”, chứ không còn là cách “Thượng Sơn” nữa. Tương tự với Sơn tinh tới hướng trên danh nghĩa là “Hạ Thủy”, nhưng nếu phía trước có núi hay nhà cao thì Sơn tinh đã “gặp núi”, nên lại biến thành cuộc “Đáo Sơn”. Còn về Phản-Phục ngâm thì chúng chỉ gây tai họa trong trường hợp là khí suy, tử mà thôi. Nên nếu phương có vượng khí mà có cửa hoặc sông hồ... thì cái họa do Phản-Phục ngâm cũng không còn nữa). 2) Phía sau nhà đã không có cửa, lại còn có núi cao hay nhà cao. Phía trước nhà đã có cửa, lại còn thêm trống, thoáng thì tai họa càng nặng. 3) Nếu đã phạm các điều ở trên, mà hướng nhà lại kiêm nhiều, vị trí cửa, bếp, bàn thờ... còn phạm Không vong thì tai họa càng nghiêm trọng. 4) Phía sau nhà đã không có cửa hay thủy, còn cửa trước tuy không nằm ngay đầu hướng, nhưng lại nằm trong 1 khu vực làm tiết thoát nguyên khí của hướng tinh nơi đầu hướng (tức Hướng tinh ở hướng phải sinh cho Hướng tinh nơi cửa) thì cũng gặp nhiều tai họa. 5)Những nhà tuy phía sau có cửa, nhưng lại bị nhà hàng xóm cao hoặc áp sát, phía trước tuy không có cửa, nhưng có sân trống hay thủy... thì cũng vẫn là cách cục phá bại và gặp nhiều tai họa. Gần đây, có 1 số nhà Phong thủy lại cho rằng những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” cần phải vuông vức, để tất cả các cung của Bát quái đều nằm gọn trong căn nhà và chiếm 1 phần bằng nhau, chứ không thể có cung nào bị lọt ra ngoài nhà hay chiếm 1 phần quá ít so với những cung khác!!! Họ cho rằng chỉ có những nhà như thế mới phát phúc, lộc, còn những nhà không vuông vức thì sẽ gặp nhiều tai họa. Tuy nhiên, nếu gặn hỏi lý do thì họ thường chỉ trả lời được rằng nếu các cung không đồng đều, hay có 1, 2 cung lọt ra ngoài cửu cung thì Tam ban quái sẽ không đầy đủ, nên khí sẽ “không thông” mà gây ra tai họa. Nhưng thật ra nếu xét kỹ “tiêu chuẩn” này thì có thể nhận thấy là ngay chính họ cũng không biết lý do tại sao những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” mà cũng vẫn bị họa, nên mới đưa ra “tiêu chuẩn” nhà cần vuông vức. Và vì không tìm được lý do giải thích, cho nên họ mới xoay sang “kết hợp” đủ mọi lý thuyết khác để tìm câu giải đáp như sau: - Về hình cục loan đầu: thì những gì vuông vức đều được coi là tốt đẹp, làm cho khí lưu thông điều hòa, còn những gì méo mó, lệch lạc đều bị coi là xấu, là làm cho khí bị bế tắc hoặc trì trệ, thiên lệch... mà làm hỏng cuộc “Tam ban Xảo quái”. - Về vận khí: hầu hết các cuộc đắc “Tam ban Xảo quái” đều xuất hiện trong các vận 2, 5, 8 tức là Thỗ vận, nên nếu nhà vuông vức thì tướng nhà sẽ hợp với nguyên vận (hình vuông thuộc Thổ) mà làm cho tốt đẹp. - Về phương vị: vì chỉ có những nhà nằm trong tọa hướng CẤN-KHÔN, KHÔN-CẤN (tức trục ĐÔNG BẮC –TRUNG CUNG - TÂY NAM) là đắc “Tam ban Xảo quái”, mà Ngũ hành của trục này đều thuộc Thổ, cho nên hình dáng của căn nhà mới “cần” vuông vức để hợp với Ngũ hành của tọa-hướng và trung cung mà giúp cho thông khí hoặc tăng thêm cái tốt, chế hóa được cái xấu... Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 Phi tinh theo Niên, Nguyệt, Nhật, Thời Trên kia chúng ta đã xét cách phi tinh theo Vận, Phần này tiếp tục xem xét cách phi tinh theo năm tháng ngày giờ... 1/ Theo năm : Khẩu quyết Tử Bạch khởi niên nói: “Thượng nguyên Giáp Tý Nhất Bạch khởi, Trung nguyên Tứ Lục thôi Giáp Tý, Hạ nguyên Thất Xích Đoài vị tầm, trục niên tinh nghịch trung cung thủy”. Thượng nguyên gồm 3 vận 1, 2, 3; Trung nguyên gốm 3 vận 4, 5, 6; Hạ nguyên gồm 3 vận 7, 8, 9. Lấy ví dụ muốn biết năm 1988 Mậu Thìn thì sao nào trong cửu tinh quản cục và nhập trung cung. Trước hết ta xem năm 1988 nằm ở nguyên nào. Tra bảng thì thấy năm 1988 nằm ở vận 7 Hạ nguyên (từ 1984 đến 2003) Sau đó đối chiếu với khẩu quyết, biết “Hạ nguyên Thất Xích Đoài vị tầm”, tức là Hạ nguyên 7 Xích tìm ở cung Đoài, lấy đó làm mốc. Sau đó tính nghịch vì khẩu quyết "trục niên tinh nghịch trung cung thủy". Bây giờ muốn tính năm Mậu Thìn 1988 thì lấy Giáp tý 1984 an vào cung Thất Xích ở Đoài, rồi tính nghịch, thì Ất Sửu (1985) là Lục Bạch, Bính Dần (1986) là Ngũ Hoàng (Trung), Đinh Mão (1987) là Tứ Lục, Mậu Thìn (1988) là Tam Bích. Vậy năm Mậu Thìn thì sao Tam Bich quản cục, vậy đem Tam Bích nhập trung làm chuẩn, tiếp đó phi đến 8 cung còn lại theo chiều thuận. Sau đây là bảng niên tinh cho vân 7 và vận 8 Có một kinh nghiệm phi tinh theo năm như sau : xác định sao nhập Trung cung, tính theo Phi cung của Nam giới là tiện và dễ nhớ nhất. Ví dụ năm 2008 , nam nhân có phi cung là Khảm, điều này Chắc huynh biết tính rồi phải không? Vì thế Nhất bạch sẽ nhập trung cung. Chỉ có ngoại trừ, trường hợp tổng cộng các số của năm sinh bằng 6 có khác một chút: Sao nhập trung cung không phải là Nhị lắc mà là Sao Ngũ hoàng số 5. Ví dụ: - Năm 2008: Tổng các số năm sinh là: 2 = 8 = 10 -9 = 1 > Phi cung khảm, nên Nhất bạch nhập trung cung; - Năm 2009: Tổng các số năm sinh là: 2+9 = 11 -9 = 2 > Phi cung Ly, nên Cửu tử nhập trung cung; - Năm 2010: Tổng các số năm sinh là: 2+1 = 3 > Phi cung là Cấn, nên bát bạch 8 nhập trung cung; - Năm 2011: Tổng các số năm sinh là 2+1+1 = 4 > Phi cung là Đoài, nên thất tinh nhập Trung cung. - Năm 2012: Tổng các số năm sinh là: 2+1+2 = 5 > Phi cung là Càn, nên lục bạch 6 nhập trung cung. - Năm 2013, tổng các số của năm sinh là: 2+1+3 = 6 > Tuy phi cung là Khôn, nhưng, đây là trường hợp đặc biệt, lùi về Trung cung, Ngũ hoàng nhập trung cung số 5 (Đây là trường hợp đặc biệt); 2/ Phi tinh theo tháng: khẩu quyết Tử Bạch Khởi Nguyệt như thế này: [B]"Tý Ngọ Mão Dậu Bát Bạch cung; Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng Trung; Dần Thân Tỵ Hợi cư hà vị, nghịch tầm Nhị Hắc thị kỳ tông”. Theo khẩu quyết Tử Bạch khởi Nguyệt áp dụng cho tháng âm lịch thì: - Những năm Tý Ngọ Mão Dậu thì khởi sao Bát Bạch ở tháng Giêng (tháng 1 âm lịch), sau đó phi nghịch cho những tháng kế tiếp - Những năm Sửu Mùi Thìn Tuất thì khởi sao Ngũ Hoàng ở tháng Giêng - Những năm Dần Thân Tỵ Hợi thì khởi sao Nhị Hắc ở tháng Giêng Ví dụ năm 2011 là năm Tân Mão: - Tháng Giêng: Bát Bạch (8) - Tháng hai: Thất Xích (7) - Tháng ba: Lục Bạch (6) - Tháng tự: Ngũ Hoàng (5) - Tháng năm: Tứ Lục (4) - Tháng sáu: Tam Bích (3) - Tháng bảy: Nhị Hắc (2) - Tháng tám: Nhất Bạch (1) - Tháng chín: Cửu Tía (9) - Tháng mười: Bát Bạch (8) - Tháng mười một: Thất Xích (7) - Tháng chạp: Lục Bạch (6) Qua năm kế tiếp là năm Thìn, ta cứ việc đếm tiếp: - Tháng Giêng: Ngũ Hoàng (5) - Tháng hai: Tứ Lục (4) - Tháng ba: Tam Bích (3) ...... Nếu coi lại khẩu quyết Tử Bạch Khởi Nguyệt thì thấy trùng hợp với câu quyết "Thìn Tuất Sửu Mùi Ngũ Hoàng Trung", tháng Giêng của năm Thìn thì sao Ngũ Hoàng nhập trung cung. [B]3/ Phi tinh theo Ngày : khẩu quyết tử Bạch khởi nhật, “Bảo Hải Kinh” viết: “Nhật gia Bách pháp bất nan cầu, Nhị thập tứ khí Lục cung chu, Đông Chí Vũ Thủy cập Cốc Vũ, dương thuận Nhất Thất Tứ Trung du, Hạ Chí Xử Thử Sương Giáng hậu. Cửu Tam Lục tinh nghịch hành cầu”. Lại có khẩu quyết: “Đông Chí Nhất Thất Tứ, Hạ Chí Cửu Tam Lục. Dương thuận Đông Chí hậu, âm nghịch thôi Hạ Chí”. [I]Ghi chú: [I]Đông Chí Vũ Thủy cập Cốc Vũ dương thuận Nhất Thất Tứ Trung du, nghĩa là từ Đông Chí đến cuối Lập Xuân thì an Nhất (1) tại trung cung phi thuận; từ Vũ Thủy đến cuối Thanh Minh thì an Thất (7) tại trung cung phi thuận; từ Cốc Vũ đến cuối Mang Chủng thì đưa Tứ (4) vào trung cung phi thuận. [I]Hạ Chí Xử Thử Sương Giáng hậu. Cửu Tam Lục tinh nghịch hành cầu, nghĩa là từ Hạ Chí đến cuối Lập Thu thì an Cửu (9) tại trung cung sau đó phi nghịch; từ Xử Thử đến cuối Hàn Lộ thì an Tam (3) tại trung cung sau đó phi nghịch; từ Sương Giáng đến cuối Đại Tuyết thì an Lục (6) tại trung cung sau đó chuyển nghịch. Cách này trước hết tra ngày theo Lục thập hoa giáp, xem ngày ấy thuộc khí nào trong Tam nguyên Cửu vận, ngày theo Lục thập hoa giáp không luận tiết mà luận khí. Ví dụ ngày Giáp Tuất sau Vũ Thủy, ắn an Vũ Thủy từ 7, khởi Giáp Tý từ 7, theo chiều thuận trên bàn tay: Ất Sửu tại 8, Bính Dần 9, Đinh Mão 1, Mậu Thìn 2, Kỷ Tỵ 3, Canh Ngọ 4, Tân Mùi 5, Nhâm Thân 6, Quý Dậu 7, Giáp Tuất 8. Biết Vũ Thủy là tính thuận, ngày Giáp Tuất là ngày 8 nhập Trung cung. Hoặc muốn tính ngày Nhâm Thân sau Xử Thử. Vì Xử Thử chủ quản sự việc sau Hạ Chí, nên khởi tính Xử Thử từ 3, tức là lấy Giáp Tý của khí sau Xử Thử khởi từ 3, theo chiều nghịch, Ất Sửu 2, Bính Dần 1, Đinh Mão 9, Mậu Thìn 8, Kỷ Tỵ 7, Canh Ngọ 6, Tân Mùi 5, Nhâm Thân 4. Phàm mọi tiết khí trước Đông Chí đều lấy âm nghịch Hạ Chí làm mốc tính toán; mọi tiết khí trước Hạ Chí đều lấy âm dương Đông Chí lám mốc tính toán. Theo đó, một ngày trước Đông Chí là ngày Giáp Tý, vì ngày đó chưa bước sang tiết Đông Chí, nên vẫn do khí Sương Giáng trước đó quản, vậy Giáp Tý là 6. Mà ngày Ất Sửu là ngày Đông Chí, nên Ất Sửu phải lấy Giáp Tý Đông Chí mà tính là 2. Có người sẽ hỏi: Tính như thế có thoát tiết vì số không liên tục hay chăng? Đáp: Không hề, đây là sự khác biệt về Âm Dương, đừng nói chênh một ngày, dù chênh một phút cũng phải tính như vậy, cho nên dặn đi dặn lại người học phải thận trọng ở điểm này. [/I][/I][/I][/B][/B] Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 BẢNG GIỜ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM THEO MÚI GIỜ GMT + 7 Tháng Tý (11): đầu giờ Tý là 23 giờ 10 phút (đầu giờ Ngọ là 11 giờ 10 phút) Tháng Sửu (12) và tháng Hợi (10 ): đầu giờ Tý là 23 giờ 20 phút (và giờ Ngọ là 11 giờ 20 phút) Tháng Dần (1) và tháng Tuất (9) : đầu giờ Tý là 23 giờ 30 phút (và giờ Ngọ là 11 giờ 30 phút) Tháng Mão (2) và tháng Dậu ( 8): đầu giờ Tý là 23 giờ 40 phút (và giờ Ngọ là 11 giờ 40 phút) Tháng Thìn (3 ) và tháng Thân (7 ): đầu giờ Tý là 23 giờ 50 phút (và giờ Ngọ là 11 giờ 50 phút) Tháng Tỵ (4 ) và tháng Mùi (6 ): đầu giờ Tý là 0 giờ (giờ Ngọ là 12 giờ đúng) Tháng Ngọ ( 5 ): đầu giờ Tý là 0 giờ 10 phút (và giờ Ngọ là 12 giờ 10 phút) Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 TAM NGUYÊN CỬU VẬN Một căn nhà có thể được xây dựng trên 1 mảnh đất có địa thế tốt (hoặc xấu), nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tốt (hay xấu) vĩnh viễn, mà tùy theo biến đổi của thời gian sẽ đang từ vượng chuyển sang suy, hay đang từ suy chuyển thành vượng. Đó là lý do giải thích tại sao có nhiều gia đình khi mới vào ở 1 căn nhà thì làm ăn rất khá, nhưng 5, 10 năm sau lại bắt đầu suy thoái dần. Hay có những gia đình sau bao nhiêu năm sống trong 1 căn nhà nghèo khổ, bỗng tới lúc con cái ăn học thành tài, gia đình đột nhiên phát hẳn lên... Cho nên đối với Phong thủy Huyền Không thì không những chỉ là quan sát địa hình, địa vật bên ngoài, cấu trúc, thiết kế bên trong căn nhà, mà còn phải nắm vững từng mấu chốt của thời gian để đoán định từng giai đoạn lên, xuống của 1 trạch vận (nhà ở hay phần mộ). Nhưng thời gian là 1 chuyển biến vô hình, chỉ có đi, không bao giờ trở lại, thế thì lấy gì làm căn mốc để xác định thời gian? Để giải quyết vấn đề này, người xưa đã dùng cách chia thời gian ra thành từng Nguyên, Vận. Nguyên là 1 giai đoạn dài khoảng 60 năm hay 1 Lục thập Hoa Giáp. Mỗi Nguyên lại được chia thành 3 vận, mỗi vận kéo dài khoảng 20 năm. Mặt khác, cổ nhân còn định ra Tam Nguyên là: - Thượng Nguyên: bao gồm 3 vận 1, 2, 3. - Trung Nguyên: bao gồm 3 vận 4, 5, 6. - Hạ Nguyên : bao gồm 3 vận 7, 8, 9. Như vậy, Tam Nguyên Cửu Vận tức là 3 Nguyên: Thượng, Trung, Hạ, trong đó bao gồm 9 Vận, từ Vận 1 tới Vận 9. Tổng cộng là chu kỳ 180 năm, cứ từ Vận 1 (bắt đầu vào năm GIÁP TÝ) đi hết 3 Nguyên (tức 9 Vận) rồi lại trở về Vận 1 Thượng Nguyên lúc ban đầu. Cứ như thế xoay chuyển không ngừng. Còn sở dĩ người xưa lại dùng chu kỳ 180 năm (tức Tam Nguyên Cửu Vận) làm mốc xoay chuyển của thời gian là vì các hành tinh trong Thái Dương hệ cứ sau 180 năm lại trở về cùng nằm trên 1 đường thẳng. Đó chính là năm khởi đầu cho Vận 1 của Thượng Nguyên. Dùng đó làm mốc để tính thời gian, người ta có thể suy ra Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất là: THƯỢNG NGUYÊN: * Vận 1: từ năm 1864- 1883 * Vận 2: từ năm 1884- 1903 * Vận 3: từ năm 1904- 1923. TRUNG NGUYÊN : * Vận 4: từ năm 1924- 1943 * Vận 5: từ năm 1944- 1963 * Vận 6: từ năm 1964- 1983 HẠ NGUYÊN: * Vận 7: từ năm 1984- 200 * Vận 8: từ năm 2004- 2023 * Vận 9: từ năm 2024- 2043 Như vậy, năm 2043 là năm cuối cùng của vận 9 Hạ Nguyên. Cho nên vào năm 2044 (tức năm GIÁP TÝ) thì lại trở về vận 1 của Thượng Nguyên, cứ như thế xoay chuyển mãi không ngừng. Điều quan trọng cho những ai mới học Huyền Không phi tinh là phải biết rõ năm nào thuộc Vận và Nguyên nào. Chẳng hạn như năm 1980 là thuộc về vận 6 Trung Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1964-1983. Hoặc như năm 1991 là thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1984- 2003. Cho nên những nhà cửa hay phần mộ xây trong năm 1991 đều thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, hay những nhà xây năm 1980 đều thuộc về vận 6 Trung Nguyên. Có nắm vững được điều này thì mới có thể thiết lập trạch vận cho nhà cửa hay mộ phần được Bản Tam Nguyên Lý Khí (Sưu tầm của cụ Tri Tri ) 24 Sơn, 8 Hướng trên la bàn [SIZE=3]Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nêm không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mổi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn. Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mổi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mổi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn-Khôn- Cấn-Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau: - Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ - Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN - Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT - Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ - Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH - Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN - Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN - Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế. Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ; Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mổi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mổi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn. ![]() [/SIZE] Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 Chính Hướng và Kiêm Hướng Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít. Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mổi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi. Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi. Tam nguyên long Sau khi đã biết được 24 sơn (hay hướng) thì còn phải biết chúng thuộc về Nguyên nào, và là dương hay âm, để có thể xoay chuyển phi tinh Thuận hay Nghịch khi lập trạch vận. Nguyên này không phải là “Nguyên” chỉ thời gian như đã nói trong “Tam Nguyên Cửu Vận”, mà là chỉ địa khí của long mạch, hay phương hướng của trái đất mà thôi. Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau: - THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn : * 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN. * 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU. - ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn: * 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH. * 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI. - NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn: * 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI. * 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ. [/url][url=http://www.vietnambuysell.com/forum/uploads//2011-06-17_050150_tamnguy%C3%83%C2%AAnqu%C3%83%C2%A1iph%C3%A1%C2%BB%E2%80%98i24s%C3%86%C2%A1n.JPG] Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH. (điều này sẽ được nói rõ trong phần lập tinh bàn cho trạch vận ở 1 mục khác). Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mổi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ. Thí dụ như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, với NHÂM thuộc Địa nguyên long, TÝ thuộc Thiên nguyên long, và QUÝ thuộc Nhân nguyên long. Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái. - Ví dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng ẤT 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện. Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ đuoc nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng ở 1 bài khác. Bản Tam Nguyên Đại Quái ( Sưu tầm của cụ Tri Tri ) Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 PHUƠN PHÁP LẬP TINH BÀN
( HAY TRẠCH VẬN ) Muốn lập tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà (hay 1 ngôi mộ) thì vấn đề trước tiên là phải biết căn nhà hay ngôi mộ đó được xây dựng trong năm nào, tháng nào? Rồi dựa vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất mà xác định nhà đó thuộc vận nào? Thí dụ như 1 căn nhà được xây xong vào tháng 6 năm 1984. Nếu nhìn vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây thì thấy Vận 7 bắt đầu từ 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003, cho nên biết nhà đó thuộc vận 7 Hạ Nguyên. Nhưng vấn đề xác định nhà thuộc vận nào trở nên rắc rối và phức tạp khi 1 căn nhà đã được xây xong khá lâu, sau đó được chủ nhà tu sửa hay xây lại nhiều lần. Hoặc sau khi xây xong thì căn nhà đã được đổi chủ... Đối với những căn nhà trên thì việc xác định căn nhà thuộc vận nào là phụ thuộc vào những yếu tố sau đây: - Nếu sau khi vào ở 1 thời gian rồi chủ nhà hoặc là dỡ mái lợp lại (nếu là nhà trệt), hoặc là tu sửa quá 1/3 diện tích căn nhà, hoặc là đập đi xây mới thì căn nhà sẽ không còn thuộc về vận cũ lúc mới xây nhà hay dọn vào nhà ở nữa, mà sẽ thuộc về vận là lúc gia chủ thực hiện những việc tu sửa trên. - Nếu căn nhà được đổi chủ (vì bán hoặc cho thuê) thì khi lập tinh bàn căn nhà cho chủ mới thì phải dựa vào thời điểm họ dọn vào nhà này ở, chứ không dựa vào thời điểm lúc xây nhà. Nếu 1 căn nhà được đổi chủ nhiều lần, thì khi lập tinh bàn cho người chủ nào thì chỉ dựa vào thời điểm người đó dọn vào căn nhà để ở là thuộc vận nào. Cũng lấy thí dụ căn nhà ở trên, xây xong và dọn vào ở tháng 6 năm 1984 nên căn nhà thuộc vận 7. Nhưng nếu vào năm 2000 người chủ đó bán nhà cho 1 người khác. Khi người này dọn vào ở trong năm đó thì trạch vận căn nhà vẫn thuộc vận 7 (vì vận 7 bắt đầu từ năm 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003). Nếu người này ở tới năm 2005 rồi lại bán nhà đi nơi khác, thì khi người chủ mới dọn về nhà này thì trạch vận căn nhà của họ lại thuộc về Vận 8 (vì Vận 8 bắt đầu từ năm 2004 và kết thúc vào cuối năm 2023) Cho nên tùy thời điểm mà gia chủ dọn vào căn nhà là thuộc vận nào mà tính trạch vận cho họ thuộc vận đó. - Đối với những căn nhà vừa tu sửa như trường hợp 1, vừa thay đổi chủ như trường hợp 2 thì trường hợp nào xảy ra gần nhất thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận đó. Cũng lấy thí dụ căn nhà xây năm 1984 (nhà thuộc vận 7), sau đó bán lại cho 1 người khác vào năm 2000 (nhà vẫn thuộc vận 7). Nhưng đến năm 2004 thì người này tu sửa nhà lại nên nhà lúc đó sẽ thuộc về vận 8. Đến khi người đó bán nhà vào năm 2005 thì căn nhà cũng vẫn thuộc vận 8 đối với chủ mới. - Đối với những căn nhà tuy không đổi chủ hay được tu sửa, nhưng nếu chủ nhà đóng cửa đi vắng 1 thời gian từ hơn 1 tháng trở lên, đến khi họ trở về thì căn nhà sẽ thuộc về Vận vào lúc họ trở về, chứ không còn thuộc về Vận cũ nữa. Cũng lấy thí dụ nhà xây năm 1984, người chủ sau khi mua ở đó được hơn 20 năm. Tới năm 2005 người đó có công chuyện phải đi xa hơn 2 tháng mới về. Như vậy khi người này trở về nhà thì lúc đó căn nhà sẽ chuyển sang thuộc về Vận 8, chứ không còn thuộc về Vận 7 nữa. - Đối với những căn nhà được xây hay dọn vào ở trong những năm cuối của 1 vận thì trạch vận của căn nhà thường là thộc về vận mới, chứ cũng không thuộc về vận cũ nữa. Thí dụ như những căn nhà được xây hay được dọn vào ở năm 2003, tức là năm cuối cùng của Vận 7 thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận 8, chứ không thuộc về Vận 7 nữa. - Riêng với âm phần (mồ mả), thì trạch vận được tính vào lúc ngôi mộ mới được xây, hoặc lúc sau này con cháu cải táng hay tu sửa mộ bia lại. Chẳng hạn như 1 ngôi mộ được dựng lên vào năm 1987 thì thuộc Vận 7, đến năm 2006 thì con cháu xây mộ, thay bia lại thì lúc đó mộ lại thuộc về Vận 8. Khi đã biết cách xác định nhà (hay mộ) thuộc Vận nào thì mới có thể lập tinh bàn cho căn nhà (hay phần mộ đó). Nhưng trước hết lấy 1 tờ giấy trắng vẽ 1 ô vuông lớn, sau đó chia ô vuông đó ra làm 9 ô nhỏ, với 8 ô chung quanh tiêu biểu cho 8 hướng: BẮC, ĐÔNG BẮC, ĐÔNG, ĐÔNG NAM, NAM, TÂY NAM, TÂY, và TÂY BẮC. Riêng ô giữa được coi là trung cung. Sau đó mới có thể tiến hành việc lập tinh bàn như sau: Lập Vận bàn Muốn lập Vận bàn thì lấy số của Vận mà căn nhà (hay ngôi mộ) đó thuộc về đem nhập trung cung, nhưng an ở trên cao và chính giữa của trung cung, rồi di chuyển THUẬN theo vòng Lượng thiên Xích. Thí dụ nhà xây năm 1984 tức thuộc Vận 7. Như vậy, lấy số 7 nhập trung cung, sau đó theo chiều thuận an số 8 tại phía TÂY BẮC, số 9 tại phía TÂY, số 1 tại phía ĐÔNG BẮC, số 2 tới NAM, số 3 tới BẮC, số 4 tới TÂY NAM, số 5 tới ĐÔNG, số 6 tới ĐÔNG NAM. Tất cả những số đó đều được gọi là “Vận tinh” (tức phi tinh của Vận) của căn nhà này, và đều được an ở trên cao và chính giữa của mỗi cung. Điều nên nhớ khi lập Vận bàn là phi tinh chỉ di chuyển “THUẬN”, tức là từ số nhỏ lên số lớn, chứ không bao giờ đi chuyển “NGHỊCH” từ số lớn xuống số nhỏ hơn. Lập Sơn bàn Theo thuật ngữ Phong thủy, “Sơn” (có nghĩa là núi) dùng để chỉ khu vực phía sau nhà (tức phương “tọa”). Cho nên sau khi đã an Vận bàn thì nhìn xem số nào tới khu vực phía sau của căn nhà. Lấy số đó đem nhập trung cung, nhưng để tại góc dưới mé bên trái. Lúc này cần phải biết tọa của căn nhà thuộc sơn nào, rồi PHỐI HỢP với Tam Nguyên Long của Vận tinh tới phương tọa để quyết định di chuyển theo chiều “THUẬN” hay “NGHỊCH”. Thí dụ như căn nhà có hướng là 0 độ thì phương tọa của căn nhà sẽ là 180 độ (vì tọa bao giờ cũng xung với hướng, tức là cách nhau 180 độ). Như vậy căn nhà này sẽ là tọa NGỌ hướng TÝ. Nếu xây năm 1984 tức thuộc Vận 7, nên lấy số 7 nhập trung cung di chuyển Thuận như đã nói ở trên thì 2 tới NAM tức phương tọa của nhà này. Bây giờ muốn lập Sơn bàn thì phải lấy số 2 nhập trung cung (để ở góc dưới mé bên trái), nhưng muốn biết nó sẽ xoay chuyển “THUẬN” hay “NGHỊCH” thì phải coi xem Tam Nguyên Long của số 2 là gì? Vì số 2 (tứcø hướng TÂY NAM) có 3 sơn là MÙI-KHÔN-THÂN, với MÙI thuộc âm và KHÔN-THÂN thuộc dương trong Tam nguyên Long. Mà tọa của căn nhà là nằm nơi phía NAM. Phía NAM cũng có 3 sơn là BÍNH-NGỌ-ĐINH. Vì trong Vận 7, số 2 tới phía NAM, nên lấy 3 sơn MÙI-KHÔN-THÂN của số 2 áp đặt lên 3 sơn BÍNH-NGỌ-ĐINH của phương này. Nhưng vì chính tọa của căn nhà là nằm tại sơn NGỌ, tức là trùng với sơn KHÔN của số 2. Vì sơn KHÔN là thuộc Dương trong Tam Nguyên Long, cho nên mới lấy số 2 nhập trung cung rồi di chuyển theo chiều “THUẬN”, tức là số 3 tới TÂY BẮC, số 4 tới TÂY, số 5 tới ĐÔNG BẮC, số 6 tới NAM, số 7 tới BẮC, số 8 tới TÂY NAM, số 9 tới ĐÔNG, số 1 tới ĐÔNG NAM. Tất cả những số này đều được gọi là “Sơn tinh” (tức phi tinh của phương tọa) của trạch vận, với sơn tinh số 6 nằm tại phương tọa (tức phía NAM) của căn nhà này. Mọi Sơn tinh đều được an tại góc phía dưới bên trái của mỗi cung, để tiện phân biệt giữa chúng với “Vận tinh” Và “Hướng tinh”. Lập Hướng bàn Sau khi đã lập xong “Sơn bàn” thì bắt đầu tới việc lập Hướng bàn. Việc lập Hướng bàn cũng tương tự như việc lập Sơn bàn, tức là tìm “Vân tinh” tới phía trước nhà là số nào? Lấy số đó đem nhập trung cung, nhưng để nơi góc phía dưới mé bên phải. Sau đó cũng phải xác định hướng của căn nhà là thuộc sơn nào? Rồi PHỐI HỢP với Tam nguyên Long của Vận tinh tới hướng mà quyết định di chuyển “THUẬN” hay “NGHỊCH”. Cho nên nếu vẫn lấy thí dụ là căn nhà tọa NGỌ hướng TÝ, nhập trạch trong Vận 7 như ở trên thì sẽ thấy Vận tinh số 3 tới hướng. Vì số 3 thuộc phía ĐÔNG, gồm 3 sơn GIÁP-MÃO-ẤT, với GIÁP thuộc dương, còn MÃO- ẤT thuộc âm trong Tam Nguyên Long. Còn hướng nhà nằm về phía BẮC, cũng có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ. Đem áp đặt 3 sơn GIÁP-MÃO-ẤT của số 3 lên 3 sơn NHÂM-TÝ-QUÝ của phía BẮC, nhưng vì chính hướng của căn nhà là thuộc sơn TÝ, tức trùng với sơn MÃO của số 3. Vì sơn MÃO thuộc âm trong Tam nguyên Long, cho nên lấy số 3 nhập trung cung rồi di chuyển theo chiều ”NGHỊCH”, tức là 2 tới TÂY BẮC, 1 tới TÂY, 9 tới ĐÔNG BẮC, 8 tới NAM, 7 tới BẮC, 6 tới TÂY NAM, 5 tới ĐÔNG, 4 tới ĐÔNG NAM. Tất cả những số này đều được gọi là “Hướng tinh” (tức phi tinh của Hướng) của trạch vận, với hướng tinh số 7 nằm ở hướng, nên trong Vận 7 thì nhà này được “vượng tinh tới hướng” nên được xem là 1 nhà tốt. Tất cả những Hướng tinh đều được an tại góc phía dưới mé bên phải của mỗi cung. Như vậy, sau khi đã lập “Vận bàn” , “Sơn bàn” và “Hướng bàn” , chúng ta sẽ xác định được vị trí của mọi Vận tinh, Sơn tinh và Hướng tinh. Đây chính là trạch vận của 1 căn nhà hay 1 phần mộ. Như vậy, 1 trạch vận gồm có 3 tinh bàn: Vận bàn, Sơn bàn và Hướng bàn. Kết hợp nó với địa thế chung quanh và cấu trúc bên trong của 1 căn nhà, người học Phong thủy Huyền Không sẽ có thể phán đoán chính xác mọi diễn biến tốt, xấu đã, đang và sẽ xảy ra cho căn nhà đó. Sau cùng, điều mà người học Huyền KHông cần nhớ là khi muốn lập Sơn bàn hay Hướng bàn thì nếu tọa hay hướng nhà mà trùng với “sơn” DƯƠNG của Vận tinh thì di chuyển “THUẬN”, nếu trùng với “sơn” ÂM của vận tinh thì di chuyển “NGHỊCH”. Tức là sự di chuyển “THUẬN” hay “NGHỊCH” của sơn và Hướng tinh là hoàn toàn do “SƠN” của Vận tinh trùng với tọa và hướng nhà là DƯƠNG hay ÂM mà thôi. Ngoài ra, chỉ có việc lập tinh bàn cho Sơn và Hướng bàn mới có trường hợp phi tinh di chuyển theo chiều “NGHỊCH”. Còn tất cả các trường hợp khác thì phi tinh đều đi chuyển theo chiều “THUẬN” tức là từ số nhỏ lên số lớn hơn. Tường Phái Huyền Không - Người Lái Đò - 21-04-2012 Lấy ví dụ về việc lập Vận, Sớn hay Hướng Bàn. Lấy ví dụ: Nhà vào ở năm 2009, đo được hướng Mão, sơn Dậu 1) Lập vận bàn: Năm 2009, thuộc vận 8, nên lấy số 8 nhập trung cung bay thuận: ![]() 2) Lập hướng bàn: Vì Hướng Mão thuộc Phương Đông nên căn cứ vào vận bàn ta lấy số 6 nhập trung cung, muốn biết số 6 bay thuận hay nghịch ta làm như sau: + Số 6 là cung càn có 3 sơn Tuất Càn Hợi, + Hướng nhà Mão thuộc cung Chấn cũng gồm 3 sơn Giáp Mão Ất + Ta thấy Sơn Mão tương ứng với Sơn Càn ở Vận bàn mà sơn Càn thuộc "sơn" Dương nên số 6 phải bay Thuận + Như vậy phi tinh số 6 muốn biết bay thuận hay bay nghịch phải do sơn tại Vận bàn quyết định Ta được hướng bàn như sau: ![]() 3) Lập Sơn bàn: Vì sơn Dậu thuộc Phương Tây nên căn cứ vào vận bàn lấy số 1 nhập trung cung, muốn biết số 1 bay thuận hay nghịch ta làm như sau: + Số 1 thuộc cung Khảm có 3 sơn: Nhâm Tý Quý + Sơn Dậu thuộc cung Đoài gồm 3 sơn: Canh Dậu Tân + Vậy sơn Dậu tương ứng với sơn Tý của vận bàn, mà sơn Tý là "sơn" âm nên số 1 bay nghịch + Như vậy phi tinh số 1 muốn biết bay thuận hay bay nghịch phải do sơn tại Vận bàn quyết định ta có sơn bàn: ![]() Muốn biết sơn âm hay dương: Căn cứ vào bảng Tam Nguyên Long Trường hợp Đặc biệt đối với Sơn hoặc Hướng Bàn khi có số 5 Nhập Trung Cung Thì việc quyết định Số 5 phi thuận hay nghịch là do Sơn Của Địa Bàn quyết định: Ví dụ: Nhà ở vào năm 2010, thuộc Vận 8, ![]() + Nếu Nhà có sơn Sửu hướng Mùi: Khi lập Hướng Bàn có số 5 nhập trung cung ta căn cứ vào Sơn Mùi (của hướng ) là Âm nguyên long nên số 5 phi nghịch trên Lạc Thư. + Nếu Nhà có Sơn Cấn, Hướng Khôn: Khi lập Hướng Bàn có sô 5 nhập trung cung ta căn cứ vào sơn Khôn ( của hướng ) là Dương nguyên long nên số 5 phi thuận trên Lạc Thư |