21-04-2012, 10:03 AM
Thời gian
Thời gian là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của cá nhân và xã hội. Thời gian là phương tiện để dựng lại và và ghi chép quá khứ, dùng trong tổ chức sản xuất, quản lý xã hội trong sinh hoạt văn hóa và giao tiếp...
Vũ trụ luôn vận động, và để dựng lại mô hình vũ trụ trong quá khứ , người ta phải dựa vào thời gian. Đơn vị thời gian từ nhỏ nhất là Nano giây, microng giây... đến ngày tháng năm rồi Vận , Nguyên, Hội v,v
Dịch học không chỉ phát hiện ra sự đồng nhất thể giữa cuộc đời 1 con người với từng vị trí Không-thời gian mà còn khám phá ra sự đồng nhất giữa 1 ngày, một năm, một vòng vũ trụ với 1 vòng đời của mọi sinh vật.
Thời gian diễn ra trong một ngày cũng giống như một năm, một Kỷ nguyên ( 129 600 năm) v.v...Cái lý tận cùng của sự đồng nhất này là nguyên lý âm dương. nghía là cái sự thăng giáng tuần hoàn lêncungf cực rồi lại xuống , xuống cùng cực rồi lại lên... cứ thế lặp đi lặp lãi mãi.
Thời gian của 1 ngày là chu kỳ vòng quay của địa cầu xung quanh trục của nó.
Thời gian của 1 tháng là chu kỳ vòng quay của mặt trăng quanh địa cầu
Thời gian của 1 năm là chu kỳ vòng quay của địa cầu xung quanh mặt trời.
Thời gian của 1 Vận = 20 năm.
Thời gian của một Nguyên bao gồm 3 phần Thựong - Trung- Hạ nguyên = 9 vận = 180 năm.
Thời gian của một Hôi = 60 nguyên = 10 800 năm
Thời gian của Một Kỷ nguyên = 12 Hội = 129 600 năm.
......
Rồi lại có hệ số nhân 3 ( tam tài ) rồi lại nhân hệ số 60 ( Hoa giáp ) rồi lại nhân hệ số 12 ( địa chi ) ta dựoc thời gian
chu kỳ 1 vòng của Hệ mặt trời quay quanh Tâm của Thiên hà chúng ta.( thường gọi là Ngân Hà ) Khoảng 280 triệu năm.
Vân vân và vân vân ... và Thiên hà của chúng ta lại xuay quanh tâm của Hệ Thiên hà ( galaxy ) Rồi Galaxy lại quay quanh tâm của vũ trụ., Rồi Vũ trụ này lại quay quanh ...1 cái gì nữa thì chưa biêt ? !
Không gian
Cách đây hơn 100 năm Nhà toán học người Đức Bergado Riman khi nghiên cứu vũ trụ đã đưa ra Định nghĩa về Không gian như sau :
" Không gian, đó là tập hợp liên tục những đối tượng đồng nhất bất kỳ " . Ông là người đã mở ra môn Hình học vũ trụ
Theo Ông, con người là một đối tượng của Không gian. từ khi sinh ra , tồn tại và phát triển... mọi hành động và suy nghĩ của Họ đều đồng nhất với Không gian. Nếu thiếu sự đồng nhất, con người sẽ bị loại khỏi Không gian.
Ngay từ xa xưa các Nhà Dich học cũng nhận thức được điều này và đã tổng kết : " Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ". Sự tương đồng về Thanh về Khí của vạn vật tạo ra sự tồn tại vĩnh hằng bên nhau và vì nhau . Khi hòa đồng với nhau, chỉ cần một một đại lượng không đồng nhất thì thực thể hỗn tạp đó sẽ nảy sinh vấn đề và có thể sẽ không còn tồn tại .
Khi nhận thức được sự huyền diệu của Nguyên lý đồng nhất thể trong vũ trụ này, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi thấy những điều kỳ lạ của các nhà Yoga, Những phép thuật của các Pháp sư... cũng như Những điều mà Khoa học hiện đại coi là Bí ẩn chưa giải thích được .
Không gian vô cùng rộng lớn, nhưng để nghiên cứu nó người ta quy về Tọa độ cầu ,lấy điểm gốc là Đối tượng đang tồn tại và đang cần nghiên cứu . Tọa độ Cầu được xác định bởi 3 đại lượng :Góc Phương vị, góc nghiêng và khoảng cách từ gốc tọa độ đến đối tượng .
Người xưa cũng dùng Tọa độ cầu, nhưng chia mặt phẳng chứa góc phương vị thành 8 phương và trong mỗi phương lại chia làm 3 phần nhỏ gọi là Sơn hướng, mỗi Sơn hướng 15 độ, vậy tổng số có 24 Sơn hướng .Ngoài 8 phương trong mặt phẳng quỹ đạo ra còn có thêm 2 phương nữa là Trên và dưới. Tổng cộng là 10 phương. như trong câu tổng kết : " 8 phương trời,10 phương đất "
Từ đây Huyền không dùng 8 phương trời ( gồm 24 sơn hướng ) và 1 gốc ( ở trung cung ) để xác định vị trí của Cửu tinh .
Đồ hình Thiên bàn gốc- Cửu tinh và 8 phương ( 24 sơn hướng )
![[Ảnh: 1.jpg]](http://ca8.upanh.com/17.340.21720208.zt60/1.jpg)
Phi tinh
Từ Thiên bàn gốc, cửu tinh xoay vần theo thời gian và theo Quy luật Thuận nghịch của Lường thiên xích.
* Vận bàn : Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận
*Hướng bàn:Sau khi có vận bàn ta lấy số ở Hướng cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy cùa sao ấy (xác định theo Tam nguyên long).
*Sơn bàn:Sau khi có vận bàn ta lấy số ở Tọa cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy của sao ấy(xác định theo Tam nguyên long).
Tam nguyên long:
Tam nguyên long gồm có : Thiên nguyên long, nhân nguyên long và địa nguyên long
* THIÊN NGUYÊN LONG: có 8 sơn :
- 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
- 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.
* ĐỊA NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
- 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
- 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.
* NHÂN NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
- 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
- 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.
Nếu (- ) thì sao bay nghịch, nếu (+) thì sao bay thuận.
Nhìn vào đồ hình thiên bàn gốc và những dấu âm dương ta có thể thấy Quy luật khi phi tinh sơn bàn và hướng bàn :
- lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.
- Nếu là thiên hoặc nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.
- Nếu là địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận
Trường hợp tọa hay hướng gặp sao số 5 nhập Trung cung: Tùy theo tọa hay hay là sơn thuộc Ðịa, Thiên hay Nhân, chiều của Lường-Thiên-Xích trong trường hợp số 5 nhập Trung-cung tùy thuộc các vận 20 năm trong Tam-Nguyên Cửu-Vận theo như dưới đây:
1. Vận 1: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch.
2. Vận 2: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
3. Vận 3: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch
4. Vận 4: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
5. Vận 6: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
6. Vận 7: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch
7. Vận 8: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
8. Vận 9: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch
Thời gian là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của cá nhân và xã hội. Thời gian là phương tiện để dựng lại và và ghi chép quá khứ, dùng trong tổ chức sản xuất, quản lý xã hội trong sinh hoạt văn hóa và giao tiếp...
Vũ trụ luôn vận động, và để dựng lại mô hình vũ trụ trong quá khứ , người ta phải dựa vào thời gian. Đơn vị thời gian từ nhỏ nhất là Nano giây, microng giây... đến ngày tháng năm rồi Vận , Nguyên, Hội v,v
Dịch học không chỉ phát hiện ra sự đồng nhất thể giữa cuộc đời 1 con người với từng vị trí Không-thời gian mà còn khám phá ra sự đồng nhất giữa 1 ngày, một năm, một vòng vũ trụ với 1 vòng đời của mọi sinh vật.
Thời gian diễn ra trong một ngày cũng giống như một năm, một Kỷ nguyên ( 129 600 năm) v.v...Cái lý tận cùng của sự đồng nhất này là nguyên lý âm dương. nghía là cái sự thăng giáng tuần hoàn lêncungf cực rồi lại xuống , xuống cùng cực rồi lại lên... cứ thế lặp đi lặp lãi mãi.
Thời gian của 1 ngày là chu kỳ vòng quay của địa cầu xung quanh trục của nó.
Thời gian của 1 tháng là chu kỳ vòng quay của mặt trăng quanh địa cầu
Thời gian của 1 năm là chu kỳ vòng quay của địa cầu xung quanh mặt trời.
Thời gian của 1 Vận = 20 năm.
Thời gian của một Nguyên bao gồm 3 phần Thựong - Trung- Hạ nguyên = 9 vận = 180 năm.
Thời gian của một Hôi = 60 nguyên = 10 800 năm
Thời gian của Một Kỷ nguyên = 12 Hội = 129 600 năm.
......
Rồi lại có hệ số nhân 3 ( tam tài ) rồi lại nhân hệ số 60 ( Hoa giáp ) rồi lại nhân hệ số 12 ( địa chi ) ta dựoc thời gian
chu kỳ 1 vòng của Hệ mặt trời quay quanh Tâm của Thiên hà chúng ta.( thường gọi là Ngân Hà ) Khoảng 280 triệu năm.
Vân vân và vân vân ... và Thiên hà của chúng ta lại xuay quanh tâm của Hệ Thiên hà ( galaxy ) Rồi Galaxy lại quay quanh tâm của vũ trụ., Rồi Vũ trụ này lại quay quanh ...1 cái gì nữa thì chưa biêt ? !
Không gian
Cách đây hơn 100 năm Nhà toán học người Đức Bergado Riman khi nghiên cứu vũ trụ đã đưa ra Định nghĩa về Không gian như sau :
" Không gian, đó là tập hợp liên tục những đối tượng đồng nhất bất kỳ " . Ông là người đã mở ra môn Hình học vũ trụ
Theo Ông, con người là một đối tượng của Không gian. từ khi sinh ra , tồn tại và phát triển... mọi hành động và suy nghĩ của Họ đều đồng nhất với Không gian. Nếu thiếu sự đồng nhất, con người sẽ bị loại khỏi Không gian.
Ngay từ xa xưa các Nhà Dich học cũng nhận thức được điều này và đã tổng kết : " Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ". Sự tương đồng về Thanh về Khí của vạn vật tạo ra sự tồn tại vĩnh hằng bên nhau và vì nhau . Khi hòa đồng với nhau, chỉ cần một một đại lượng không đồng nhất thì thực thể hỗn tạp đó sẽ nảy sinh vấn đề và có thể sẽ không còn tồn tại .
Khi nhận thức được sự huyền diệu của Nguyên lý đồng nhất thể trong vũ trụ này, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi thấy những điều kỳ lạ của các nhà Yoga, Những phép thuật của các Pháp sư... cũng như Những điều mà Khoa học hiện đại coi là Bí ẩn chưa giải thích được .
Không gian vô cùng rộng lớn, nhưng để nghiên cứu nó người ta quy về Tọa độ cầu ,lấy điểm gốc là Đối tượng đang tồn tại và đang cần nghiên cứu . Tọa độ Cầu được xác định bởi 3 đại lượng :Góc Phương vị, góc nghiêng và khoảng cách từ gốc tọa độ đến đối tượng .
Người xưa cũng dùng Tọa độ cầu, nhưng chia mặt phẳng chứa góc phương vị thành 8 phương và trong mỗi phương lại chia làm 3 phần nhỏ gọi là Sơn hướng, mỗi Sơn hướng 15 độ, vậy tổng số có 24 Sơn hướng .Ngoài 8 phương trong mặt phẳng quỹ đạo ra còn có thêm 2 phương nữa là Trên và dưới. Tổng cộng là 10 phương. như trong câu tổng kết : " 8 phương trời,10 phương đất "
Từ đây Huyền không dùng 8 phương trời ( gồm 24 sơn hướng ) và 1 gốc ( ở trung cung ) để xác định vị trí của Cửu tinh .
Đồ hình Thiên bàn gốc- Cửu tinh và 8 phương ( 24 sơn hướng )
![[Ảnh: 1.jpg]](http://ca8.upanh.com/17.340.21720208.zt60/1.jpg)
Phi tinh
Từ Thiên bàn gốc, cửu tinh xoay vần theo thời gian và theo Quy luật Thuận nghịch của Lường thiên xích.
* Vận bàn : Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận
*Hướng bàn:Sau khi có vận bàn ta lấy số ở Hướng cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy cùa sao ấy (xác định theo Tam nguyên long).
*Sơn bàn:Sau khi có vận bàn ta lấy số ở Tọa cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy của sao ấy(xác định theo Tam nguyên long).
Tam nguyên long:
Tam nguyên long gồm có : Thiên nguyên long, nhân nguyên long và địa nguyên long
* THIÊN NGUYÊN LONG: có 8 sơn :
- 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
- 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.
* ĐỊA NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
- 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
- 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.
* NHÂN NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
- 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
- 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.
Nếu (- ) thì sao bay nghịch, nếu (+) thì sao bay thuận.
Nhìn vào đồ hình thiên bàn gốc và những dấu âm dương ta có thể thấy Quy luật khi phi tinh sơn bàn và hướng bàn :
- lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.
- Nếu là thiên hoặc nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.
- Nếu là địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận
Trường hợp tọa hay hướng gặp sao số 5 nhập Trung cung: Tùy theo tọa hay hay là sơn thuộc Ðịa, Thiên hay Nhân, chiều của Lường-Thiên-Xích trong trường hợp số 5 nhập Trung-cung tùy thuộc các vận 20 năm trong Tam-Nguyên Cửu-Vận theo như dưới đây:
1. Vận 1: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch.
2. Vận 2: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
3. Vận 3: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch
4. Vận 4: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
5. Vận 6: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
6. Vận 7: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch
7. Vận 8: Ðịa: nghịch, Thiên: thuận, Nhân: thuận
8. Vận 9: Ðịa: thuận, Thiên: nghịch, Nhân: nghịch
Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
