Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Các thế cờ trong tử vi [ST]
#4
10/ THẾ TỬ VI TÝ / NGỌ :

A/ TỬ VI CƯ TÝ :

TƯỢNG : - ẤU CHÚA ĐƯƠNG QUYỀN .
- Hoặc ĐẾ VÔ SỞ QUYỀN .
( Nếu vô Tả / Hữu + Cát tinh )

PHÊ : - BẤT KHẢ THI CÔNG
( Tử vi tại TÝ là NHÀN cung , Cần Tả - Hữu Khôi - Việt - Hồng -Đào để biến Hư thành Thực . )


- ĐINH / KỶ / CANH = Quý Cách .
- NHÂM / QUÝ = Dù có Phú Quý cũng chóng tàn .
- Gia KHOA -QUYỀN - LỘC = Tối vi kỳ Cách .

- Nữ Mệnh gia TỨ SÁT = Mỹ ngọc hà điếm ( ngọc đẹp bị vết tích ) , nhật hậu bất mỹ . Quý Cách bị Phá hoại . ).


B/ TỬ VI CƯ NGỌ :

TƯỢNG : - ĐẾ CƯ ĐẾ VỊ .

phê : - QUÝ BẤT KHẢ NGÔN .
- VỊ CHÍ CÔNG KHANH .
- THIÊN CHUNG THỰC LỘC .

Cần : Tứ Cát ( cần Tứ Cát vì Lục Cát rất hiếm khi có , Tứ Cát = Tả Hữu Khôi Việt ). Hoặc Tam KỲ = Quý bất khả ngôn .

Kỵ : SÁT TINH , SONG HAO , TUẦN / TRIỆT tại Mệnh và TÀI , Chủ Hư ảo ( phù du , phá Cách ) , Băng hoại ( Có lúc bộc phát lên 1 đại Hạn hoặc 5, 3 năm , ăn chơi sa đà xong lại xuống bình thường Cách ) , Hoặc Cô độc .

- GIÁP / ĐINH / KỶ = Vị chí Công khanh .
- BÍNH / MẬU = Khi thành khi bại , có thể bị thương Tật .

- Nữ Mệnh gia CÁT = Vừa Quý vừa đẹp , lại vượng Phu ích Tử .

TRUONGTAMPHONG hỏi:
thưa anh ma y cung,nhân tiện anh cho tôi hỏi một chút
-tôi đọc 1 số sách thấy có sách nói thiên lương hành thổ có sách lại nói là hành mộc,tham lang sách thi nói hành thuỷ sách lại nói hành mộc vậy hành của sao thế nào mới là đúng
-tôi không hiểu lắm khi đọc câu phú :phủ phùng không ngộ thanh long phản vi cát tường,vậy thanh long có tương tác như thế nào mà thắng được cả tuần triệt
-người ta nói triệt đáo kim cung,tuần lâm hoả địa là tốt nhưng tôi không hiểu là vì sao nó tốt
-một số sách cho lâm quan,đế vượng là hành kim nhưng theo tôi được biết các tên trên không phải là sao mà chỉ là 1 chu trình trong vòng sinh diệt vậy căn cứ vào đâu mà người ta đặt cho nó hành kim hay đấy là sự khiên cưỡng đặt cho đủ?


Huynh TRUONGTAMPHONG ,

- Vì Cổ thư có nhiều Nguồn , mỗi Chi phái Tử vi chỉ dùng nguồn sách của Họ mà Sách thì có khác nhau về chi tiết cho nên vấn đề Anh đưa ra hầu như rất khó giải quyết :
Thiên Lương = Thổ / Mộc .
Tham = Thủy / Mộc
Liêm = Mộc / Hỏa
Thất sát = Hỏa / Kim .v.v

Có khi lại nói Tham thuộc Mộc đới Thủy tính , Thất sát thuộc Kim đới Hỏa ...
Bỡi không ai nắm rõ phương pháp liệt kê Ngũ Hành của Chư Tinh dựa vào đâu : Địa lý , Thiên văn , Thời khí ,Tính chất của sao , Phương hướng , Tinh quang hay Chu kỳ vận hành ? Không ai biết mấy ông thời xưa dựa vào đâu nên đây là 1 ngõ cụt . Cứ theo thói quen hay Trường phái mà lựa Ngũ Hành thôi .

Nhưng theo tui thì mấy ông hồi xưa đã dùng Tính chất của Sao để định ra Hành :

Tử vi = trung hậu , từ thiện , ôn lương , Thiên Phủ cũng có cá tính tựa như vậy , nhưng vì hai sao này là Chủ tể chư tinh nên lấy hành Thổ , bỡi thổ có những đặc tính trên ngoài ra còn có nghĩa sinh ra vạn vật .

Thiên Lương = Lương thiện , từ tâm , trung hậu , Thọ tinh cho nên có thể dùng hành Mộc ( Hành Mộc chủ về nhân từ , thiện lương ), có khi dùng hành Thổ vì hợp với chữ Trung hậu và lão thọ .

Tham lang = dùng hành Thủy vì cá tính dễ đam mê , thấy chỗ nào vui đẹp là sa vào rồi bỏ đi tìm chỗ khác , dùng hành Mộc cũng không sai vì ví ông Tham lang như khúc gỗ mục trôi lờ đờ trên dòng nước , đến đâu hay đến đó , vả lại trong câu Phiếm Thủy đáo hoa đã thấy cả 2 Hành Thủy / Mộc trong đó .

Mã = Ngày xưa người ta thường dùng ngựa trong những trường hợp khẩn cấp ( Hỏa tốc ) hoặc trong chiến trận ( binh Hỏa can qua ) ..

Thái Dương = tượng Mặt Trời , thuộc Hỏa .
Thái Âm = tượng Mặt Trăng , mặt Trăng là Thủy chi tinh ,nên thuộc Thủy . .v.v



- Phủ phùng Không nhi ngộ Thanh long :

Phủ phùng Không tượng là cái kho, vựa trống không , cho nên thường nghèo , túng thiếu , Phủ thuộc Thổ ngộ Không cũng có nghĩa là Chỗ đất Hư địa hoặc Vô khí . Thanh long có tượng là Mạch khí, Long mạch , chỗ Hư địa vô khí mà được long mạch dẫn vào thì Khí thế phục hồi trở lại , biến Hư thành Thiệt , cho nên mới nói là phản vi Cát tường .

- Triệt đáo Kim cung , Tuần lâm Hỏa địa =

Có thuyết cho Triệt là Hành Kim , Tuần Hành Hỏa cho nên khi đến 2 cung này thì ngũ hành ám hợp , ít tác Hại hay được phù trì gì đó ,nên gọi là Tốt , nhưng đây chỉ là 1 loại giả thuyết , trên thực tế thấy không đúng lắm .

- Vòng Tràng sinh :

Thấy 1 số sao của vòng Tràng sinh có ngũ hành là đúng vì mấy ông hồi xưa khoái Ngũ Hành lắm , thấy thằng nào ( dù không phải là Sao ) cũng đè cổ ra dán 1 chữ ngũ Hành vào mặt .

Nhưng nếu nhìn theo 1 phương diện khác , điều này cũng có thể tựa như các vị Thuốc Bắc , vị thuốc nào cũng phải có ngũ Hành để dễ bề phối chế , thì Tinh đẩu trong Tử vi cũng vậy , phải biết Thằng này thuộc Hành gì để dễ phối hơp với các sao khác , hoặc để xem tính chất có khắc kỵ với nhau hay không .

Căn cứ vào đâu ?

Như đã đề cập bên trên , mấy Cụ xưa kia đã dựa theo TÍNH CHẤT của mỗi sao mà chọn HÀNH , ví dụ như Trường sinh , có nghĩa là sinh sinh bất tuyệt , thể như 1 dòng nước trên nguồn chảy xuống , cho nên có Hành Thủy , Mộc dục = Tắm gội , cho nên cũng thuộc Thủy . Quan đới = cái đai của các Quan ngày xưa , thường làm bằng kim loại hoặc viền kim loại nên thuộc Kim . Đế vượng = Quý tinh , đi với sao nào cũng làm rực rỡ ( Đẹp ) cho Sao đó . Hì hì , mấy cái Sao ( người đẹp ) ra đường mà muốn rực rỡ thì phải đeo thêm nữ trang , vàng bạc ( thời xưa mà ), trong ngũ Hành chỉ có thằng Kim mới hội đủ 2 yếu tố vừa Quý vừa Đẹp này , cha nào lựa Hành cho em Đế vượng cũng là dân chơi chứ không phải nhaqué đâu í,,

Suy = Tính chất Nhu nhược , yếu đuối cho nên phải dùng Hành Thủy .
Bệnh = những cơn bệnh thường làm cho thân thể gầy guộc , khô héo người đi giống như miếng thịt mỡ bỏ vào lò 15 phút lấy ra teo lại chỉ còn ...phân nửa , cho nên Bệnh mà lấy hành Hỏa thì cũng không sai lém .
Tử = là thâm trầm , chết chóc , giảm thiểu , đa sầu đa cảm ..chỉ có nước mới diễn tả được những đặc tính này : Thâm trầm = thâm sâu như nước biển , Giảm thiểu = nước bốc hơi , Chết chóc = tử thủy , nước đọng ( nước đọng mang trong người những lợn cợn , vẫn đục khó tả ).
Mộ = nhập Mộ , chết , chôn vùi ...đều liên quan đến Thổ .


Thanh long ( Blue Dragon ) : còn gọi là Thương long , đại biểu Đông phương / mùa Xuân , sắc Xanh , thuộc Mộc .
Nguồn gốc : Theo Cổ Thiên văn thì Thanh long là 1 trong Tứ Tượng ( Thanh long , Bạch hổ , Chu tước , Huyền vũ ), theo tui thì đây là nguồn gốc xưa nhất của Thanh long , vì Thiên văn xưa thoạt đầu chia nền Trời ra làm 5 Phương dựa theo Ngũ Hành , Phương thứ 5 tại Trung tâm chỉ có các chòm sao thuộc Tử vi viên như Tử vi , Đại Hùng .v.v không chứa bất kỳ sao nào trong Nhị thập bát tú . Bốn Hướng còn lại Đông Tây Nam Bắc thì mỗi Hướng có 1 Tượng trấn giữ .

Thanh long được chọn làm đại diện cho Đông phương vì Đông phương là nơi Mặt Trời mọc ,khởi đầu cho 1 ngày , Hướng Đông cũng chỉ cho mùa xuân , khởi đầu của 4 mùa , nên Thanh long Mộc đóng tại đây . Vậy Thanh long là đứng đầu của Tứ Tượng trong Thiên văn , Tử vi cũng dựa phần lớn vào Kiến thức của Thiên văn nên có thể nói kiến giải về nguồn gốc của Thanh long không có gì khác .

Còn Mộc = cây cỏ chủ về sắc Xanh , cho nên lấy hiệu là THANH , Tứ Tượng thì lấy tích Tứ Linh : Long Lân Quy Phụng , nhưng hình thù các Chòm sao có lẽ không giống nên sửa lại là Long Hổ Quy Tước , vì chòm sao Đông phương có dạng hình dài nên người ta gán nó với con Rồng = Thanh Long .

Thanh long chỉ là 1 Tiểu tinh , tuy không có tác dụng lớn lao trong việc hổ trợ các Chính tinh khác nhưng vì Bản chất là Từ tường ,thanh cao , Hỷ khí ( tính tự nhiên vui vẻ , yêu đời ), lại dễ nổi danh nên đi với Chính tinh nào cũng có bổ ích .
như Âm - Thanh Long = người có tấm lòng dịu dàng , vui vẻ . Phủ - Long = người hay bao bọc kẻ khác . Đồng - Long = kẻ hòa đồng , êm thắm với mọi người chung quanh .
Liêm ( Miếu / Vượng )- Long = dễ nổi tiếng thanh liêm ( không ngộ Sát tinh )...

Về Tướng Quân thì không thấy sách nào nói đến việc phản vi Cát , tui cũng không nghe nói đến sự kết hợp giải nguy của Tướng - Lộc . Nhưng nếu có Lộc tồn trong các Cường cung ( không bị phá hoại ) thì cũng may lắm , vì chưa chắc đã phản vi Cát tường nhưng về phương diện vật chất thì không sợ túng thiếu .

TỬ VI Tý / Ngọ :

* Tại Tý / Ngọ hội Tam Kỳ = Quyền Quý cách , gặp may mắn lạ kỳ .
* Tử vi cư Ngọ + Khôi - Khoa = Có tài lớn , phò tá vị Nguyên thủ .
* Tại Tý , tuổi NHÂM / QUÝ = Hay chán nản , dễ bỏ cuộc .
* Nữ Mệnh hội Tứ SÁT = Mỹ ngọc hà tỳ .
* Cần Quần thần khánh hội ( Tả/ Hữu + Cát tinh ) , nếu không có Tả Hữu thì thuộc cách Tại dã cô Quân .
* Tử vi + đa SÁT = kẻ hoài tài bất ngộ .
Nếu có Lộc tinh , nên kinh thương .
* Tử vi cư Ngọ , vô Kình - Đà , Tuổi Giáp Đinh Kỷ = Vị chí công khanh .
* Tại Ngọ , tuổi BÍNH / MẬU = Hữu thành hữu bại .
* Tử vi + Quyền Lộc + Kình - Đà = Tuy hoạch Cát nhưng vô đạo , tâm thuật bất chính .
* Tử vi + Xương Khúc + Cát tinh = Quý cách , nhàn nhã .
* Tử vi - Lộc tồn Đ/c = Quý bất khả ngôn .
* Tại Ngọ hội Khôi - Việt - Tướng Quân = là Cách xuất Tướng nhập Tướng , có uy quyền và được kính mộ .
* Nữ Mệnh tại Ngọ = Vượng Phu ích tử .
* Tử vi - Khôi - Việt + Tam thai - Cát tinh = được Quan chức lớn .
* Tử vi Vô Tả -Hữu + Sát tinh = Cô Quân , tiểu nhân tại vị cách , là cách ngồi chơi xơi nước .
Nếu Tam phương có Cát tinh hội mà Bản cung có Sát tinh thì gọi là Quân tử tại dã , Tiểu nhân tại vị . Có cách này là người gian tác , ngụy quân tử .
* Tử - Hình - Vô Tả Hữu = làm quan chức nhỏ .
* Nữ Mệnh Tử vi tại Dần ,Ngọ ,Thân = Cát Quý Mỹ , chồng hiền con quý .
* Tử vi + Kiếp - Không = Nên tu hành , nghiên cứu về tâm linh , Triết học . Nếu gia Cát tinh có thể là nhà lãnh tụ Tôn giáo .
* Tử vi + Tứ Sát = Phong bãi hà hoa cách , như hoa bị mưa dập gió vùi , không tốt cho Nữ Mệnh .
* Tử vi ngộ Tuần / Triệt = Giảm Quý , mất oai quyền , giảm Thọ , giảm uy lực cứu giải .
* Tử vi tọa Tiểu hạn = có thể giải được tai nguy .
Tử vi Tý / Ngọ + Tam Kỳ = có thể là đến Đại hạn Tam Hóa thì được xơi đó !
Tử vi T/ N - Tam kỳ ( kỳ cục ) mà an không được thì mới là KỲ CÁCH chứ , an được thì đâu phải là Kỳ , he he ...

Mệnh Tốt mà Phúc xấu hay Điền / Tài xấu theo kinh lịch
của tui thì cũng cứ hưởng như thường , bỡi vì Phúc khí thay vì tụ tại Phúc cung thì đã tụ tại Thân / Mệnh , bỏ mấy cung kia mặt tình , dù xấu cũng chẳng sao , cũng có nghĩa là Bạn thì Phát đạt giàu có thế quyền mà Họ hàng ( Phúc cũng chỉ Họ hàng ) thì nghèo xơ !
Phúc khí tựa như Tiền và Quyền tụ tại nhất Thân thì Bạn có ở gò mả cũng có người theo kỳ nèo săn đón ...

Như ông Mao , chỉ có 1 người con trai được hưởng phú quý vì trong 1 dịp về thăm làng quê của ổng , HqP có dứng canh hầu suốt 1 đêm cho ông Mao ngủ , sau này ổng mới cất nhắc , còn 1 đứa con gái ruột thì te tua ,ổng không ngó ngàng gì cả , trông hình của bà này tựa như mấy người lao động khốn cùng , thật là quái lạ ,,
Cho nên Mệnh tốt mà Phúc xấu cũng có nghĩa là khi phất lên mình chẳng chia sẻ gì với hàng họ, thậm chí người Thân nữa
TỬ VI TÝ / NGỌ :

Thế Tử vi Tý và Ngọ đa phần các Chính tinh còn lại giống nhau về chỗ Miếu / Hãm , chỉ có Tử vi cư Tỳ vì Âm Dương lạc Hãm nên thường sinh trong gia đình trung lưu hay trung lưu thấp ( Âm Dương Hãm hội chiếu Phụ Mẫu ), nhưng từ từ lớn lên thì kinh tế cũng được ổn định vì Tử vi cư Tý vốn nắm được bộ Vũ- Phủ - Tướng rất hứa hẹn . Về mặt Hôn phối thì Phu Thê Thất sát tọa Nhàn cung phối với Thái Âm Hãm nên về mặt kinh tế người phối ngẫu vì công việc không ổn định , thu nhập bình thường và không giúp ích gì được nhiều , tại Tý Ngọ đều có khả năng phải qua 2, 3 lần đò bỡi Thất sát là sao thường có những quyết định nóng vội , và vì Tham Vượng cư Di , nhất là Tử vi tại Ngọ , Thiên Di có cách Phiếm thủy Đào Hoa, lại sắm trong tư thế lắm tiền nhiều bạc nên gia đạo dễ rối loạn . Có điều người Tử vi lúc nào cũng coi địa vị của Chính Thê rất quan trọng .

Tại Ngọ có ưu thế hơn Tý về Vị Thế ( Đế cư Đế vị ) , Ngũ Hành ( Cung Hỏa sinh Tử vi Thổ ) và hưởng bộ Âm Dương sáng nên thường sinh trong 1 gia đình khá giả , sau này thì địa vị , danh cử , thu nhập , hưởng thụ đều cao vượt bực , đó là lý do tại sao tìm được 1 lá số có cách Tử vi cư Ngọ ( Không bị Phá cách ) rất là khó khăn .

Về Thế trận của Tử vi cư Ngọ thì không có gì đáng nói vì xã hội đang trong lúc phú cường , thiên hạ thái bình , nên binh bị có vẻ lơ là , nếu có điều gì oán trách là phát xuất từ sự đam mê dục vọng , có thể phần nhiều là bị Cha Mẹ trách cứ , nhưng không đến chỗ nghiêm trọng . Trận Thế của Tử vi cư Tý xin xem lại Trang # 2 .

Hóa Kỵ tại Phúc nếu nói là bị khắc kỵ với người trong họ thì cũng không sai về mặt lý thuyết , nhưng tốt hơn là nên xem Kỵ tinh đi với những Bộ sao nào , ví như Kiếp Không Phục Kỵ ( trộm cướp )/ Mộc Kiếp Kỵ ( Hư thai ) / Tsát Kiếp Kỵ ( lãng lý hành chu )/ Liêm Kình Không Kỵ ( bất đắc kỳ tử )/ Long Kỵ ( có danh )/ Âm S/Mùi -Kỵ .v.v .. tam phương tứ hướng hội với Kỵ tại Phúc cung có thể dễ dàng biến đổi tính cách của Hóa Kỵ , cho nên nếu hỏi 1 Sao nào đó trên 1 Cung thường không được chính xác , ví như hỏi Riêu tại Phụ có nghĩa là gì thì không thể nói Phụ mẫu ...hoang dâm mà phải kết hợp với các Bộ Sao đi với Riêu .
Cung Phúc thường chỉ cho dòng Họ của mình mà thôi , tui không nghĩ nó chứa cả xóm giềng . Xóm giềng thì Bạn có thể dùng 2 cung giáp cung của Đại Hạn hoặc dùng vị trí của Điền cung hay Lưu Điền để suy ra , nếu sống chung với Chủ nhà ,thì dùng Nô cung , ví như Nguyệt Hạn đến Nô cung thấy có Mã Phục Không Kiếp = Bạn bè của bạn hoặc Chủ nhà của Bạn bị mất trộm xe .

Thất sát - Thanh Long = Sát long , chắc chắn là không sai . Giống nào cũng có con Hung con Hiền , nếu giết 1 con Ác Long thì có khi là 1 cử chỉ đẹp . Nhưng thời này long ở đâu mà giết , tùy theo hình Tượng có thể là giết cá , lươn , các loài bò sát như rắn , giun ,,, nếu Sát Hãm có thể là Long Mạch bị Sát Khí ,,



11/ THIÊN ĐỒNG MÃO / DẬU :

TƯỢNG : - PHÚC HẬU TÂM TỪ .
- HOÁN CẢI VÔ THƯỜNG .

- SÂU DÂN MỌT NƯỚC . ( Dậu Cung )


PHÊ : - BẠCH THỦ THÀNH GIA .

CÁCH CỤC :


- Tại MÃO / DẬU : ẤT/ BÍNH / TÂN = Tài Quan song mỹ .
- Ngộ KÌNH = Dễ bị thương tích .
- Ngộ Hỏa / Linh = Tất sinh dị chí , trước là đồng chí sau là bất đồng ý kiến .

- Nữ Mệnh = Tính tình vui vẻ ,hiền từ , Phúc hậu , ham vui, hay thay đổi .
- ĐỒNG + Đào Hồng - Xương Khúc = thích văn nghệ , nghệ thuật , có thể thành ca nhạc sĩ , diễn viên .

- ĐỒNG + Tả Hữu - Xương Khúc - LỘC TỒN = An nhàn hưởng thụ .
- ĐỒNG - KỴ = Đa thị phi .
- ĐỒNG - ĐÀ Đ/c = Mấc bị lé .
- ĐỒNG cư MÃO , Tuổi ẤT = Khắc Mẹ .

- THIÊN ĐỒNG , Tuổi ĐINH / GIÁP = Khắc Phu .
- ĐỒNG - Hỏa - Linh = đa lao khỗ .
- ĐỒNG - KHÔNG -KIẾP = Giảm phúc , bất hạnh , bị đau bộ phận Tiêu hóa .
- ĐỒNG + đa SÁT TINH = Chỉ làm lụng lặc vặt dung thân , hay thay đổi nghề nghiệp , chỗ ở .

- ĐỒNG + Khôi Khoa Xương Khúc = Có linh trí , sáng láng , liêm khiết .
- ĐỒNG -Cự - Tang Mã = Cùng nhau chia tay , chia ly .


- Có CỰ MÔN Hãm = Ngôn ngữ xảo trá , kẻ cả ( lệnh sắc ), tính tình hay thay đổi , hạ tiện .
- ĐỒNG cư MÃO , Nữ Mệnh tuổi TÂN = Hiền Thê , vượng Phu ích tử . Các tuổi khác cũng tốt nhưng không bằng Tân .

- ĐỒNG hội CÁT Tinh = sống lâu , tăng Thọ .
- ĐỒNG + Quyền Linh Kỵ + Lộc tinh ( Lộc tồn / Hóa Lộc ) = Buôn bán kiếm tiền dễ dàng .

- ĐỒNG - KHÔNG - Hổ = Không cùng chí hướng , chính kiến .
- ĐỒNG tại DẬU = Hoán cải vô thường , lật lọng có kế sách , làm gì cũng chủ cho tư lợi . ( Cách cục không nói rõ ràng ) .

- ĐỒNG Hãm + Hình - Kỵ - Sát tinh = Phiêu bạt lao khổ , bị bệnh tật : Đau Bụng , Bộ tiêu hóa , tật ở Mắt , dễ mắc tai nạn và giảm thọ .




QUYENQUY có hỏi :
.....vậy phải chăng một lá số muốn có sự nghiệp lớn thì phải có hung tinh kèm theo các trung tinh phụ tá tinh tốt đẹp đi bên chính tinh để chính tinh có đủ khả năng định hướng cho các hung tinh này.
Và có phải hung tinh chỉ đi đúng với đại tướng chỉ huy với mình như Hỏa Linh phải gặp được Tham Lang, Kình Đà phải được Thất Sát, Không Kiếp phải được Phá Quân hoặc chí ít là có khả năng khắc chế được tính sát như Hỏa Linh gặp Tử Phủ, Không Kiếp gặp Vũ Tướng, Kình Đà gặp Tử phủ Vũ Tướng... mới phát triển được, còn đám mặc khách văn nhân Cơ Nguyệt Đồng Lương thì luôn phải chịu lép vế.


Các lá số dù có Cách cục lớn hay nhỏ mà chúng ta gặp phải hàng ngày đa phần đều thuộc Cách Cát Hung tham bán , tức Cát tinh và Hung tinh lẫn lộn tọa chiếu Mệnh viên . Các Hung tinh ngoài ý nghĩa Tai họa , bệnh tật ,
cá tính xấu .v.v thì trong sự nghiệp nói chung chúng thường biểu thị tính cách trở ngại , thăng trầm , thất bại , khi đi chung với Cát tinh thường thì chúng tạo ra cách Tiền Hung hậu Kiết , có nghĩa là nếu đương sự có đủ khả năng , trí tuệ và nhẫn nại cũng như vốn liếng và vượt qua được những khó khăn cản trở do lũ Hung tinh gây ra trong quá trình xây dựng sự nghiệp thì chắc chắn sẽ hưởng được xứng đánh thành quả tốt đẹp , thành quả này là do sự kết hợp của Cát và Hung tinh , nên thường lớn lao và lừng lẫy hơn là những Cách cục có Cát tinh mà thiếu Hung tinh , cho nên sách nói Cát tinh đắc địa tầm thường sự nghiệp là vậy .
Ở Thành phố lớn này có 1 thương gia xây dựng sự nghiệp trải qua 4 lần thất bại mới thành công và ông ta đang lá 1 thương nhân giàu có nhất nhì tại địa phương , lần thứ 4 những người bạn hùn vốn cùng ông thấy thất bại trước mắt nên đã tìnm cách rút hết vốn ra , chỉ còn 1 mình , ông nãn chí lắm nhưng phóng lao thì phải theo lao , vì quay trở lại thì vốn liếng cũng không còn bao nhiêu , nếu lần đó mà ông buông trôi thì nay chỉ là 1 phó thường dân như vài người bạn chung vốn làm ăn khi đó .
Sát Phá Tham thì khắc chế và dùng được Lục Sát và Sao nào thần phục sao nào thì đã có nhiều tác giả đề cập , vấn đề này đã rõ ràng nên ta không cần nhắc lại . Còn Cơ Âm Đồng Lương thì không phải là không có khả năng lãnh đạo hay không có tài cán , 4 sao này về mặt trí tuệ và Tài năng có nhiều khi còn cao cấp hơn Sát phá Tham , nhưng vấn đề là Họ thụ động , nhút nhát và thiếu Hùng khí , thiếu lỳ lợm , thiếu gan góc ,v,v biết là làm việc đó phần thắng lên đến 80 % nhưng vẫn không dám thử sức , vì sợ ...20% còn lại quật lại thì chết , còn những Anh Sát Phá Tham thì khác , dù chẳng biết phần trăm thắng lợi là bao nhiêu , có thể là 5, 3 % vẫn có liều mình xông vào làm thử , đó là lý do tại sao đa phần người người thắng lợi lớn lại không phải là nhóm Văn tinh .

Đồng Quyền Linh Kỵ , trong đó Quyền Linh Kỵ = Quyền biến , linh động , chủ động nắm cơ hội ( đây là chữ Anh dùng rất đúng trong trường hợp này ), thêm Tuế / -Hình / Hình Kỵ Không Kiếp .v.v có thể đem lại thị phi , mờ ám

ĐỒNG CƯ MÃO thì cũng vậy , 2 tuổi ĐINH / GIÁP cũng bị Khắc Phu .
ĐỒNG cư MÃO ngộ TRIỆT = Tùy lá số mà luận , không thể nói tổng quát là tốt hay xấu , nói chung là Thiên Đồng hay bất kỳ sao nào có Cát tinh từ TAM PHƯƠNG chầu về mà bị Triệt thì không tốt , Cách cục bị giảm nhiều lắm , còn Tam phương Hung tinh đa thì lại có thể lại là Tốt .

Theo Tui thì chúng ta không thể lựa Chính tinh cho phù hợp với Nạp âm hành Mệnh của mình trong trường hợp chỉ có 1 Chính tinh trong ngôi nhà của Mình , nếu nó không phải là mình thì nó là ai ?? không lẽ là Bà hàng xóm !

Các Cô Thiên Đồng mà Tui đã gặp tính tình và xử sự phải nói là không chê vào đâu được , hầu như những đức tính đáng yêu của phụ nữ họ đều dành ôm hết cả vào Thân , nên Thiên Đồng Nữ Mệnh đã có những đức tính tốt hình thành trong đó rồi , nếu không tại sao sách gọi là Phúc tinh ? Mà có Đức mới sinh ra Phúc chứ , không có Đức tính / đức độ thì lấy gì sinh ra Phúc đức ! nên chỉ có những gã đàn ông nào ...mù mắt mới dám chê mấy Cô Thiên Đồng mà thui , ngay như các Cụ xưa có nhắc lấy Vợ thì nên lấy THIÊN ĐỒNG và THIÊN TƯỚNG chứ đừng có lấy mấy Bà la SÁT như mấy Cụ đã lẫm lờ .

THIÊN ĐỒNG MÃO / DẬU :

Thiên đồng thuộc Âm Thủy ( có sách đề là Dương Thủy ), tại Mão / Dậu có hội tụ của tam Thủy ( Âm -Cự - Đồng ) nên Khí lực rất mạnh , tại Mão vị vì phải sinh xuất cho Mộc Cung nên khí thế trở thành hòa hoãn , bình thường .

Tại Dậu thì Cung sinh Tinh đúng lý ra phải Miếu / Vượng nhưng vì Thái Âm là Tinh nguyên của Thủy bị Hãm , nguồn của Thủy bị Hãm thì khí thế giảm nhược . Vả lại Thiên đồng tại Dậu là Thủy sinh vào tháng Trọng Thu , nếu không có Bính ( Thái Dương ) xuất hiện thì Kim khí bị giá rét không thể sinh Thủy , vì 2 lý do này Thiên Đồng tại Dậu vẫn không thể ở vị trí Miếu / Vượng ( thuộc chữ Bình cũng như tại Mão ).

Tại Mão cung được hưởng Âm Dương sáng tọa Di / Phúc nên Cách cục tại Mão tốt đẹp hơn tại Dậu . Không ở vị trí Miếu / Vượng mà Thiên Cơ tọa Quan lộc bị lạc Hãm cho nên nếu Quan lộc không có đa Cát tinh thủ chiếu thì Cách Thiên Đồng Mão / Dậu phần đông chỉ làm công nhân viên chức Hạng Trung trở xuống .

Tại Mão không nên ngộ Hỏa Linh Không Kiếp , cuộc đời thường vất vả , khó khăn , lên thác xuống ghềnh , nhưng Thiên đồng dù lạc vào Hãm địa thường thì nghèo nhưng vẫn Thọ .

Đồng Mão / Dậu vì bị Cách Cự - Dương nên bất lợi cho Đàn Bà , cách này thường dễ khắc khẩu với người Tình hoặc người Chồng , trong trường hợp gia thêm các sao Thị phi ( Tuế/ Kình / Đà / Khốc -Hư / Kiếp / Kỵ ... ) thì gia đình càng thiếu hòa khí vá Khắc Phu .

Đàn ông vẫn bị cách Cự Dương nhưng vì ngoại hướng nên thường khắc Cha và hay gây thị phi từ bên ngoài
Có 2 lá số THIÊN ĐỒNG cư MÃO :

1/ JEB BUSH : 11 FEB 1953, 20:50 Hr .

2/ JOHN McCAIN : 29 AUG , 1936 , Giờ : Tỵ ( 9: 11 AM )


12/ THẾ CỰ- NHẬT DẦN / THÂN :

Tại DẦN :

TƯỢNG : - DƯ LUẬN THUẬN PHÒ .

PHÊ SỐ : - THỰC LỘC TRÌ DANH .
- NHẤT CỬ THÀNH DANH .
( Thái Dương cư Dần là điềm Thiên môn
Nhật lãng , nếu thêm Quyền Phượng sẽ thành
Cách Nhất cử thành danh ).


Tại THÂN :

TƯỢNG : - LƯƠNG THẦN BỊ VU KHỐNG .
- VẠ MIỆNG HẠI THÂN .
( Chủ Hối tiếc buồn thương ).
- QUAN PHONG TAM ĐẠI .
( Cần Tuần / Triệt tại Thân / Dậu ) .

PHÊ : - TU PHÒNG TÂM PHẾ .
( Dễ bị bệnh Tim / Phổi vì lo buồn )

- THỰC LỘC TRÌ DANH .


CÁCH CỤC :

* GIÁP / ĐINH / KỶ / CANH / TÂN = Tài Quan song mỹ .
* Vô Kiếp Không + Tứ Sát + Cát tinh = Thực lộc trì danh .
* Kiến KÌNH - ĐÀ + Cát tinh = Nam Nữ tà dâm , tuy Phú Quý nhưng không bền . Nữ khắc Phu .

* Tại Dần , ngộ Thiên Không - Hỏa Linh - Tang = Bị Hỏa Ách .
* Tại Thân = Tác sự tiên cần hậu lãng ( làm việc gì cũng vậy lúc đầu thì hứng khởi sau thì lơ là ) .
+ Ngộ Sát Hình Kiếp Kỵ = đau yếu bệnh tật .
* Tại Dần = Tính hay rối trí . Kỵ ngộ Các sao Thuộc Thủy , giảm Tốt .

* CỰ hội THÁI DƯƠNG = Cát Hung tham bán .
* Tại Dần cung ngộ Đa Cát tinh = Phú Quý dương danh , Quan phong Tam đại Cách .
* Nữ Mệnh Cự - Nhật - Kỵ = Khắc Phu , khắc khẩu , dễ bị tan vỡ . Nam đa khắc Phụ ( Cha ) .
* Ngộ Tuế - Lộc = Nên đi buôn .

* Mệnh VCD tại THÂN , DẦN cung có CỰ- NHẬT chiếu =
Trước có Danh tiếng , sau Tiền bạc mới đến ( Tiên trì danh nhi hậu thực lộc ) .
Mệnh VCD tại Dần , Cự - Nhật tại Thân chiếu cũng vậy . 2 Cách này rất DỄ NỔI TIẾNG , nhiều khi có tiếng nhưng tiền không là bao .

* CƯ - NHẬT Dần / Thân , phúc hỷ Giáp / Canh sinh = Cần người tuổi Giáp / Kỷ dễ làm Quan lớn .

* Cự - Nhật D / T Kỵ ngộ Lộc tồn = Ngộ Lộc tồn là cách Cát xứ tồn Hung , nếu có Hung tinh tụ đảng dễ bị Phá sản , tai nạn , bệnh tật . Cho nên Cách này cần Hóa Lộc hơn Lộc tồn .
* Cự - Nhật Đ/c + Đa Cát tinh = QUAN PHONG TAM ĐẠI Cách .


QUYENQUY hỏi :
Thưa bác MaYCung, bác cho cháu hỏi thêm một số câu hỏi về hai lá số này với ạ!.
1. Lá số ông Maccain:
- Mệnh tài quan là Đồng Cơ Cự hội quyền lộc, đào hồng hỉ, khôi việt, cáo phụ;Thân cư dư có cách Luơng Âm Duơng hội thêm Lộc tồn, Xuơng Khoa nên rất đẹp nhưng lại bị một số phá cách rất đáng ngại như quan cung Thiên Cơ ngộ Hỏa, Phúc Cung Thái Duơng miếu đi cùng Lộc Xuơng và Khoa bị triệt, Di Cung Thái âm miếu ngộ Tuần. Nếu thông thường khi xem thì chẳng ai dám nghĩ là ông có thể là Thượng Nghị sĩ và đã từng tranh cử tổng thống có đúng không ạ vì quan cung đã bị phá cách khá nặng và Phúc cung cũng không được hoàn hảo!
2. Lá số ông Jeb Bush:
- Cháu thấy ông mệnh thân thuộc cách Đồng Cơ Cự nhưng mệnh triệt quan lộc bị tuần, hơn nữa thân cư tài bạch bị phạm vào cách Cự Lộc đồng cung cát xứ tàng hung nữa nhưng sao ông ta vẫn lên được Thống Đốc Bang ạ!

Những câu hỏi của cháu có thể hơi ngu ngơ nên mong bác thông cảm ạ, vì cháu thấy nhiều khi phú áp dụng vào giải đoán cũng không được chuẩn lắm ạ. Cháu xin cảm ơn bác!


Huynh QUYENQUY ,

Anh nói đúng cung Phúc của McCAINE không được tốt vì Thái Dương sáng ngộ Triệt , nhưng nhờ vào Đại Hạn Phúc đức 23- 32 tuổi ta mới hiểu được Triệt này ảnh hưởng ra sao và không tốt ở chỗ nào .
Thái Dương thuộc Bắc đẩu tinh hệ ngộ Triệt thì cái xấu sẽ xảy ra vào nửa sau của Đại Hạn , nửa đầu của Đại hạn trên thực tế cho ta thấy công danh , sự nghiệp của ông ta vẫn đang đi lên .
Quan lộc Thiên cơ Mộc ngộ Hỏa cũng không tốt vì Mộc kỵ Hỏa phần , Thiên di Thái Âm sáng ngộ Tuần cũng vậy , chỉ mấy điểm này cũng cho thấy lá số này khó ngoi lên cao được .
Nhưng mà ông ta ngoi lên được mới là chuyện lạ .có lẽ nhờ vào Phúc / Ấm tụ tại Mệnh / Thân và Mệnh / Thân hội đủ Khoa Quyền Lộc + Tứ Cát - Tam Minh .
Ông này bị nạn vào năm 1967 Đinh Mùi , tức nhằm ngay cung Quan lộc , theo Tượng mà dò thì thấy không sai mấy khi có :
Phi ( Liêm ) - Cơ = Máy bay . Ngộ Thiên Không - Hỏa tinh = bốc cháy trên không .
Ách cung có : Điếu + Kình Đà Không Kiếp = vì té ngã mà bị què lọi tay/ chân .
Ông này bị bắn rơi xuống Hồ Tây = Cự - Hà .
Có Thanh long nhập Mộ , rồng xanh nhập Mộ mà sao ổng không chết , mà còn rên rỉ ca bài " Anh không chít đâu Em , anh chỉ vừa ...chống nạn hôm qua ..." Hè hè , ai mà biết được .
Hồ Tây hình như nằm bên Phải của Hà nội dựa theo cung vị trên ná số , chưa ra Bắc lần nào nên đâu biết nó mặt dày mặt mỏng như thế nào ??
Ông Hai này Cung Quan lộc cung đâu có tốt gì nhưng nhờ cách Thanh long nhập Mộ , Long - Hà , và nhị Hợp lại có Khốc Hư đ/c hưởng 3 Cách Nổi tiếng cùng lúc , như vậy lá số của Ông này thuộc loại có Tiếng hơn là có Miếng !!
Sau đó dĩ nhiên là Ông 2 này ôm quần áo vào Hỏa Lò ngồi ...ngâm thơ , đang ở Hạn Xương - Khúc Khôi Vịt Khoa mà , Hạn này níu không có Triệt thì ngồi viết sách cũng nổi như Diều .
Hèn chi người ta nói Cơ - Lương thì sợ Hỏa - Linh , Hạn này lái máy bay thì gặp ..tên lửa , vô Tù ngồi cũng gặp Hỏa ( Lò ) đúng là chạy đi đâu cũng không thoát .

Nủa Đại hạn sau có Thái Dương + Âm ngộ Tuần - Triệt , mà Âm Dương = Tháng Ngày , Tuần Triệt = che chắn , nên thời gian này có thể nói là ông không thấy Mặt Trời Mặt Trăng đâu cả , ngày cũng như đêm đêm cũng như ngày chỉ biết làm Thơ như Cụ Trần văn Hương mà thui ... ( Ông Vũ thư Hiên cũng cùng chung cảm giác nên có Tác phẩm Đêm giữa ban ngày ) .
*
Về Ông Giép BUSH thì ông này Hên lắm , tui có học được chiêu Mệnh Triệt / Quan Tuần thì dễ bị Thất Thân trước khi lên xe hoa về nhà Chồng , vì lão ta là Đờn ông nên né được , không ai thèm phát giác ...
Cách của Lão này Mệnh Quan bị T/ T , nhưng THÂN có Cự ngộ Tứ Cát thì đã hóa giải cái Hắc ám rùi ( Chính Tinh Hãm ngộ Cát có thể hóa Cát ) , tạo thành Cách Cự - Lộc = hưởng lộc Lớn , ngoài ra PHÚC cung Tốt quá : Thái Dương Huy quang ở đất Trường sinh lại ngộ Tam Minh - Song Lộc , hổng biết Cụ Nội tổ chôn ở đâu mà phát dữ quá ...
Như vạy Đồng - Lương mà có gặp Hỏa Linh cũng dừng lo lém , Phúc Ấm tại Thân không sợ Tai nguy mà , Cơ ngộ Hỏa cũng vậy , không chừng lại Nổi tiếng như số của lão nèi

12/ CỰ - DƯƠNG DẦN / THÂN :

Muốn nhìn thấy vị thế của Cự - Nhật có khi phải lùi 1 bước đứng ở cung Thiên di là Cung độ của Quan sát viên mới thấy được ,

- DƯ LUẬN THUẬN PHÒ :

Cự Nhật tọa DẦN , Thiên Di tại THÂN ta thấy có :
Cơ - Lương = Cơ hội tốt đẹp . Cơ - Cự = Cơ hội to lớn .Thái Dương đang lúc Thăng Điện thì càng lúc càng sáng lại là sao chủ về công danh , phối hợp với Cơ Lương / Cự Cơ thì ta sẽ thấy được Cách = Có Cơ hội to lớn . tốt đẹp để lập chí công danh . Dư luận là chỉ ĐỒNG - ÂM / ĐỒNG - CỰ , nhưng vì Thái Dương đang lúc sáng sủa , công danh và tương lai sáng lạng , lại là người trong nhà ai lại trở mặt chống đối , lúc đó ĐỒNG - ÂM có nghĩa là đồng lòng , CỰ đã biến thành cánh cửa công danh to lớn , Thiên Di là ĐỐI CUNG ( Cung của Đối thủ ) vắng hoe , mà Cự lại nhập bọn với Đồng Âm để tâng bốc Thái Dương , cho nên có tượng là Dư luận thuận phò .

CỰ - NHẬT TẠI THÂN thì không đẹp bằng Dần .Tại THÂN thì ngược lại , từ vị thế thuận phò thì nay bị Vu Khống , từ vị thế đứng tươi cười trước cửa ( Cự - Dương tại Dần = Người có danh chức đứng trước của ) thì nay lấp ló phía sau cánh cửa ! Uui , đúng là cánh cửa của Công danh , không biết đã bao lần đè chết bẹp cõi đời của mỗi con người ,chỉ vì mỗi Vị thế khác nhau , nay thì Công danh đang trên đà đi xuống , Thái Dương ( Công danh ) đang đến lúc về chiều , Thái Dương là người có Danh chức , có tính cách trong sáng , sự nghiệp cung lại thấy ĐỒNG ÂM ẩn hiện nên cho thấy đây là 1 Lương thần ( Đồng âm thường can gián không cho Vua làm điều sằn bậy , nên gọi là Lương Thần ) Chủ nợ , Đối phương chưa thấy tới mà người nhà đã vội vàng trở mặt ( Cự môn biến chất từ thuận tòng quay ra Vu Khống , chỉ trích ). Thói đời là vậy , không có gì đáng phải ngạc nhiên . Từ nay kẻ có Thái Dương Hãm vận nói năng ắt phải đề phòng vì cớ Vạ miệng hại Thân .

QUAN PHONG TAM ĐẠI :

Ở đâu vậy ? Tại sao lại đến tam Đại ?

Mệnh VCD tại THÂN , Cự - Nhật chiếu :

Thái Dương là chủ về Quan chức , cư Dần là đất TAM DƯƠNG KHAI THÁI , Tam Dương = 3 vạch Dương = chỉ 3 người đàn ông . Nội Quái có 3 Hào Dương , Nội Quái lại ám chỉ trong gia đình , Tam Dương này chiếm vị trí từ Hào 1 , 2 đến Hào 3 , có nghĩa là về mặt Thứ cấp thì khác nhau , không sánh ngang vai được , Hào 1 là nhỏ nhất đại biểu là Cháu , Hào 2 là Cha , Hào 3 là Ông , nên gọi là Tam Đại = 3 Đời . Vả lại DƯƠNG KHAI THÁI nói theo kiểu chiết tự = Quan lộc được Hiển Đạt . Túm lại = 3 Đời Hiển đạt .

Quan Phong tam đại Cách chỉ cần không ngộ KIẾP KHÔNG / TỨ SÁT là Thành Cách .
Hay nhất là gia thêm Tả - Hữu ( hoặc 2 Cát trong Lục Cát ) + TAM KỲ / SONG LỘC = PHÚ QUÝ CỰC PHẨM .
Nếu ngộ KIẾP KHÔNG và TỨ SÁT = phá Cách .
- Thiên Di ngộ TUẦN / TRIỆT / HỎA - LINH = Cũng bị phá cách , bôn ba lao khổ , bất đắc chí ..
Nếu ngộ HÌNH - SÁT = Xuất ngoại Hung nguy .
Các này VCD được 3 Cách đẹp chiếu hội là : CỰ - NHẬT cư Dần / ĐỒNG ÂM cư Tý / CƠ - LƯƠNG Cư Thìn , bộ nào cũng đẹp cho nên nói Quan phong Tam đại là cũng không ngoa .


KHÔNG Kiếp - Thiên không / Tuần Triệt .v.v không thể nào nói vài câu hay 1 , 2 Bài là có thể giải thích hết được , mà nói thu tóm tổng quát cũng rất khó cho người ứng dụng vì sơ lược quá . Tùy mỗi lá số mà chúng biến đổi khác nhau , cho nên điều Quan trọng không phải là vấn đề giải thích ( vì đã có rất nhiều giải thích về Kiếp Không / Tuần triệt trên TVLS và các Trang khác ,)mà là Phương pháp làm việc .
Nếu các Bạn muốn đi sâu vào Tử vi ( học Tài tử thì không cần ) thì trước nhất phải có :

- Hồ sơ các lá số .
- Các Câu Phú và Công thức liên quan đến đề mục nghiên cứu ,
- Phải chịu khó học thuộc lòng các câu Phú và công thức liên quan . Nếu không chịu khó học công thức thì coi như không xem được , hoặc nghĩ là mình xem được nhưng thực tế là mình chẳng hiểu gì cả . Nếu có trúng thì cũng chẳng biết tại sao trúng , Sai thì không biết tại sao sai .

Tui nói ví dụ như Kiếp - Tham = lãng lý hành chu .Nhưng qua đến Kiếp - Liêm cư Hỏa cung = có thể là Tự vẫn , đến Mã Tuế Kiếp = bị đâm chém . Cơ Tấu Tuế Kiếp = đăng đàn bái tướng .v.v Nó biến đổi rất mực vô chừng , nếu không học mà chỉ đựa vào Cảm tính để đoán thì rất nguy hiểm vì độ sai biệt rất lớn .

Những công thức này bắt buộc các Bạn phải học , học càng nhiều thì trình độ xem lá số càng dễ dàng , cũng tương tự như học Vocabulaires của 1 môn sinh ngữ vậy , có vài Trường phái chủ trương không cần học như vậy vì lý do này lý do kia, học như con Vẹt .v.v nhưng khổ thay Tử vi là 1 loại môn giống như Sinh ngữ / Hóa học , những môn này mà không học từng Chữ , từng Công thức thì làm sao mà Master .
Khi đã Master rồi thì mới nói đến chuyện không cần Phú / Công thức ( vì chúng đã nằm sẵn trong đầu rồi , không cần suy nghĩ ) , tức là đi đến trình độ Vô Chiêu , Bạn có bao giờ thấy 1 sinh viên chỉ biết khoảng 1 hai nghìn từ ngữ tiếng Anh mà đã thông suốt được Anh văn không ??
Đó là lý do học Tử vi tiến rất chậm , vì phải nhét vào đầu rất nhiều thứ , còn những Bạn đi theo trào lưu Hiện nay nhìn 1 đống sao rồi phân tích theo ý của mình mà chẳng cần học nhiều thì đó là Trường phái của Họ ( chỉ cần biết Đặc tính của Từng Sao một là đủ roài ) , cũng như có những người học Tiếng Anh mà không cần học từ ngữ !!, chỉ cần học Văn phạm thui , học như vậy thì khỏe ru hà , chừng 2, 3 năm là đã ra trường làm Giảng sư được rùi ,,


13/ THIÊN LƯƠNG TÝ / NGỌ :

TƯỢNG :

Tại TÝ : - LƯƠNG THẦN ẨN DẬT .
PHÊ : - HOÀI TÀI BẤT NGỘ .

Tại NGỌ : - LƯƠNG THẦN NHIẾP CHÍNH .
PHÊ : - QUAN TƯ THANH HIỂN .



- ĐINH / KỶ / QUÝ = Tại Tý là Phúc hậu . Tại Ngọ là Cách THỌ TINH NHẬP MIẾU , được Quan tư thanh hiển .
- CÁT tinh tương phùng = Bình sinh Phúc Thọ song toàn , không sợ Hung nguy .
- Gia TỨ CÁT - Tam Kỳ / Quyền - Lộc = Vị chí Đài cương , xuất tướng nhập Tướng .

- Tại TÝ , có DƯƠNG - XƯƠNG - LỘC Hội = Lô truyền đệ nhất danh . Tại Ngọ thì Mệnh phải tọa Thái Dương , gia thêm Lương Xương Lộc cũng thuộc Cách này .

* Thiên Lương Đắc địa = Thông minh , tử tế , hiền lương , bình sinh Phúc thọ .
* Thiên lương Hãm địa , đa Sát - Kỵ tinh = Đa bệnh tật ,nếu ngộ các Cách Yểu vong xâm phạm = Vẫn bị yểu tử .
* Thiên lương + Văn tinh = là kẻ giỏi du thuyết , ăn nói hay và thuyết phục .

* Thiên lương = Chủ về Cô khắc , thường khắc Lục Thân ( Anh em / Cha Mẹ / Thê nhi ).
* Nữ Mệnh Thiên Lương Miếu / Vượng = Hiền từ . phúc hậu , trung trinh .
* Thiên lương Cát địa = Có công năng tiêu tai giải ách .

* Thiên lương là ẤM TINH = Nếu Miếu / Vượng , Cát tập thường được hưởng di sản , thanh danh , địa vị của Cha Ông để lại .
* Thiên lương = Thường là kẻ có mưu chước nhưng bản chất hiền từ nên thiếu thủ đoạn .
* Lương Hãm địa = Lận đận trong công ăn việc làm , hay thay đổi nghề nghiệp , chổ ở . kiếm tiền khó khăn , hay xa gia đình , ly hương lập nghiệp .

* LƯƠNG TÝ / NGỌ + NGUYỆT - LINH + Cát tinh = Đa Tài , hiển đạt .
* LƯƠNG - Hóa Lộc Đ/c = là người Bác ái , hay bố thí và làm việc thiện , cứu trợ xã hội ...
* LƯƠNG Hãm ngộ MÃ = Là Cách Phiêu đãng vô nghi . Thường hay thay đổi chỗ ở , việc làm , chí hướng , hay đi xa . không bền chí , cuộc sống lông bông . Nhất là tại Tỵ / Hợi , thường là kẻ chơi bời lêu lổng , Nữ Mệnh thì Dâm dật , có thể là hạng đĩ điếm . Nếu gia thêm Ác Sát tinh là kẻ hạ tiện , nghèo hèn . Nam Mệnh thuộc Cách THÊ NHI LÃNG ĐÃNG .

* LƯƠNG - HÌNH = Hình khắc , hay bắt bẻ , trừng phạt .
* LƯONG + Việt Linh Hình = bị sét đánh , điện giựt .
* LƯƠNG - HỎA / LINH hội Thiên Di = Giỏi buôn bán lương thực , thực phẩm .

* LƯƠNG - KỴ = Bị cây cối đè .
* LƯƠNG + Đa Sát Kỵ tinh = Nhiều bệnh tật , phải sống nhờ thuốc thang .
* LƯƠNG + Tam Minh = Có thể vào nghề trình diễn , Văn nghệ , may vá , phục vụ nhan sắc ...

* LƯƠNG + ĐÀO -HỒNG -Tả Hữu Xương Khúc Riêu = Nữ Mệnh là người Rất đẹp và có tài, có thể làm người Mẫu , Minh tinh , có nhiều người theo đuổi , ăn chơi hưởng lạc .
* LƯƠNG - LỘC TỒN Đ/c = Thiên lương thường không thiện quản lý kinh doanh ,ngoại trừ những ngành như Thốc men , Thực phẩm , thực vật , có Lộc tồn đ/c thì có tiền nhưng sinh phiền toái .
* LƯƠNG gia CÁT tọa Thiên Di = Hoạnh phát kinh thưong .

* LƯƠNG - XƯƠNG / KHÚC Đ/c = Là kẻ lịch duyệt , khoan hòa và có thanh danh .
* LƯƠNG tại Tiểu Hạn = Nếu Miếu / Vượng , không ngộ Sát tinh / Không vong thì tài lộc hưng thịnh . Nếu Hãm ngộ Hung tinh , bất lợi về sức khỏe , tiền bạc , hoặc đau nặng , phá sản .
* LƯƠNG cư Mệnh , Phu / Thê là Cự Môn = Thuộc Cách Đa bất mãn hoài .

Sách nói Thiên Lương thuộc Âm Mộc , lại có sách khác nói là Dương Thổ , chúng thuyết phân vân , không biết đằng nào mà lần .

Nay xin theo sách của ngài Vân Đằng TTL làm Tiêu chuẩn , theo Cụ TTL thì Thiên lương thuộc Âm Mộc . Thiên lương thuộc Mộc thì cư Tý Miếu / Vượng là đúng , vì Tý là Thủy cung sinh cho Mộc tinh . Tại Ngọ vị vì là đất Trường sinh của Âm Mộc , theo Thể Tượng Thiên Lương có Tượng là 1 Lương Thần , Ngọ cung là chốn Triều đường
Lương Thần mà tọa tại chốn Triều dã thì có nghĩa là Lương Thần đắc dụng , được nhà Vua tin dùng ,vì Thế ( Trường sinh ) và Tượng ( Lương Thần đắc dụng ) đều đắc cách nên Thiên lương cư Ngọ có thể liệt vào Hạng Miếu / Vựong , dù rằng về mặt Ngũ Hành không Tốt vì thuộc Diện Tinh sinh Cung .

Ngược lại thế Thiên lương cư Tý về mặt Ngũ Hành rất đẹp , nhưng về Thế và Tượng thì Thất cách , vì Thiên lương Mộc cư Tý là cư Bại Đia , sinh nhằm Bại địa dù có phát cũng là ...Hư Hoa , Hư Hoa có nghĩa là không thiệt , giả tạo , chỉ được vẻ bề ngoài .v.v Thiên lương cư Tý vì ở vị thế Đối diện triều Thiên , có nghĩa là không ở trong Cung mà lang thang bên ngoài , Thiên lương là Mộc , Tỳ là tháng Trọng Đông , ở vị thế này có nghĩa là người đã từng làm Quan , từng được hương ân mưa móc của nhà Vua ( Thái dương cư Ngọ là Tựong của nhà Vua , hiện tại thì đang run rẩy ( vì mùa đông mà ) để đợi sắc chỉ triệu hồi , hồi Kinh phục chức ( đợi lệnh Vua cũng thể như ngày rét mà chờ ánh mặt trời vậy )/( có lẽ vì can gián , bẩm trình nghịch nhĩ hay sao đó mà bị Triều đình cho về Vườn ...đuổi gà cho Bà xã ! ).

Tuy là ở Thế Lương Thần ẩn dật ( Dùng chữ ẩn dật nghe cho nó lịch sự 1 tý chứ thật ra là bị ngưng chức hay bãi chức ) , tình trạng này sao giống từa tựa cái Ông đại thần Nguyễn trường Tộ quá .

So sánh giữa 2 tư Thế , Cư Tý thì đắc Ngũ Hành mà Thất Ý( Thế ) và Tượng , ngược lại cư Ngọ thì Đắc Thế- Tượng mà Thất Ngũ Hành . Nên có thể nói là bình quân thu sắc , tùy trường hợp mà chọn , chưa chắc ai hơn ai .

Tại Tý , nếu Thân cư DI thì quá Tốt , từ vị thế Bại địa trở thành Đắc địa và Đắc Thế .
Tại Ngọ , nếu Thân cư Di sẽ biến thành Hãm cuộc ( Thân cư Thái dương Hãm ) tức từ vị thế Thành biến ra Bại .

Thật ra khi Thiên lương đơn thủ Tý / Ngọ thì tại Tý tốt hơn Ngọ , bỡi lẽ tại Ngọ có Thái Dương đối cung Hãm địa và về mặt Ngũ Hành cũng không tốt , nhưng Thiên lương cư Ngọ là đắc Thế / Tượng , chỉ cần có Văn Xương / Văn Khúc Đ/c gia hội Cát tinh là lập tức ứng với câu Phú :

- Thiên lương - Văn Khúc ( hoặc Văn Xương ) cư Miếu / Vượng , vị chí đài cương "

- Thiên lương Miếu Vựong , Tả Hữu Xương Khúc gia hội , xuất tướng nhập tướng .

Đây là Cách VĂN -LƯƠNG CHẤN KỶ , ( Văn = Xương / Khúc , Lương = Thiên lương, chấn kỷ = Chấn hưng lại kỷ cương , luật pháp Quốc gia ).

Cách này cần LƯƠNG Miếu / Vượng thủ Mệnh , tam phương có Lộc tồn , Cát tinh ( nếu đắc Tam kỳ thì quá tốt )
chủ xuất chánh đường quan ( làm Quan , công chức cao cấp ) thành đại Quý , trong tay thu tóm bộ máy Hành chánh của nhà nước .

Cách Thiên Lương cư Ngọ vì Mộc cư Hỏa địa , xét về mặt Cung Khí nên cần dùng Kim / Thủy phối chế , có thể dùng Kình Hình Kỵ ...nhưng về mặt Hậu quả không tốt bằng đi với Văn tinh Xương Khúc ( vì Văn Thần thì cần Văn tinh và Khúc / Xương đi với Lương không mang lại Hậu họa ) .

Ví dụ như Lương - Hình = Hình khắc thái quá , nắm vận mạng Quốc gia mà thi hành chính sách quá độ khắc nghiệt , có thể đem hậu quả tai hại đến bản thân như trường hợp Thương Ưởng chấp chính nhà Tần , dùng chính sách Tân chính quá tàn bạo . Và Lương đã chủ về Cô khắc , nên có hậu quả không tốt .
Lương - Kình = lại chủ về Cô khắc , vì Thiên Cơ- Thiên lương - Kình Dương hội = Tảo vãn cô hình ( sớm tối chỉ có ...1 mình ).
Lương - Kỵ = Sợ bị tai nạn cây , gỗ đè sập ,,

Như vậy khi phối chế cần phải biết Hậu quả , có những cách rất đẹp nhưng cuối đời bị hoạn nạn , Bất đắc kỳ tử ..v.v là vì tuy có thích nghi về lý Ngũ Hành nhưng không Thích hợp về mặt Nghĩa Tượng .



Bạn HOAPHOBUON ,

Ma y cung có viết :
Tỵ = Đông Bắc . Dinh Thái tử theo tục
lệ phải ở phía Đông của Cấm cung , cho nên nói là ở gần
Cựu Dinh , vì Thái tử lên ngôi tất nhiên phải move nhà !
Và đoạn :


BÀN CỜ :
Trên Bản đồ lộ số nhà Vua đã bò trống Kinh Thành , chạy
tỵ nạn về hướng Đông Bắc , có mang theo 1 Đại Tướng và
đoàn tùy tùng hộ giá .

Về 2 đoạn trên xin Quý Bạn sửa lại giùm là TỴ = Đông Nam .Không phải Đông Bắc , Qua vài Bài sau đã có 1 Ông bạn nhắc nhở từ lâu nhưng tui nghĩ Quý Bạn sẽ thấy được những lỗi sơ đẳng đó nên cho nó đi luôn ,,,

Và đoạn :

1/ Vua đã bỏ trống Kinh Thành :
Tử Vi từ Ngọ cung là Kinh đô chạy về đồn trú hưởng phước
ở Tỵ cung ( Tây Nam , không phải Tây Bắc ), có mang theo
1 Đại Tướng tùy giá là Thất sát .


Tình hình nguy ngập như vậy , rơi vào thế không ai ra
ngăn giặc , Thiên Tướng lúc này đang ở sơn lâm ( Mão )

XIN Quý Bác 1 lần nữa sửa lại TỴ = Đông Nam . Vì sau khi viết xong tui chỉ check lại Chính tả , về mặt Từ nghĩa không sửa cho nên có khi bị những lỗi stupid như vậy .
Cám ơn Hoaphobuon đã chữa lại giùm .

Về đoạn :

Ngoài ra bác có nói Thiên Tướng cư Mão là vùng sơn lâm.
HPB xin được thắc mắc thế này,hướng Tây là vùng sơn
cước,núi cao vực sâu,nhìn về fương Đông (Mão) là miền
đồng bằng trù fú,như kiểu Móng Cái mà nhìn về đồng bằng
sông Hồng vậy. Cung Mão xưa nay được coi như biển Đông
liền kề đồng bằng trù fú màu mỡ,là những dải đất bằng fù
hợp với nông nghiệp,chỉ có những vạt rừng với cây thấp và
thân mềm từ sớm đã bị khai hoang. Vậy theo bác tại sao
cung Mão lại là vùng sơn (núi) lâm (rừng) ạ?


Trả lời :

Về mặt Địa lý mà nói thì tại Trunh Hoa hay Việt nam ở phía Đông đều là Biển ,làm gì có rừng núi chi chi ,, nhưng không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào điều này , vì phía Đông Trung Hoa vẫn có những ngọn núi lớn như Hoàng sơn , và tại phía Đông các Tỉnh Quảng Đông , Phúc Kiến , Chiết giang là những Tỉnh giáp Biển đều có những ngọn núi tên là Đông sơn . Ví như phía Đông nước Lỗ ngày xưa cũng có 1 ngọn núi tên là Mông sơn mà Mạnh tử có viết : " Khổng tử đăng Đông sơn nhi tiểu Lỗ ." tức Bác Khổng Khâu có lần trèo lên đỉnh Mông sơn đứng ngắm vị thế nứoc Lỗ và than rằng ui nước Lỗ của tui sao mà bé nhỏ quá ! . Ngọn Mông sơn này là Đông sơn mà Khổng tử đã có lần đứng trên đỉnh .
Ngoài ra , Dần / Mão thuộc Đông , mà Dần = Cọp , Mão = Thỏ , 2 giống này thường chỉ có ở rừng núi cho nên lấy ý đó mà suy ra Mão vị là Đông sơn .



ma y cung đã viết:
THIÊN CƠ SỬU / MÙI :
- CƠ - KỴ Nữ Mệnh = Nếu có đa Cát tinh thì Cơ - Cự thành
cách Thạch trung ẩn ngọc , ngộ KỴ nơi Mệnh sẽ biến thành
Cách Mỹ ngọc hà tỳ ( Ngọc đẹp bị vết ), đời sống tình cảm
có khúc mắc , buồn phiền không xứng ý cũng cứ giữ kín
trong tâm , không chịu thố lộ


Trả lời :

Thiên CƠ Sửu / Mùi thì có CỰ MÔN cư Quan lộc tại Tỵ / Hợi , Cự - Cơ 1 tại Mệnh 1 tại Quan lộc sẽ tạo thành cách Thạch trung ẩn ngọc nếu tụ hội đa Cát tinh , nếu không hội đủ Cát tinh thì vẫn hoàn là 1 cục đá to tướng , chẳng phải Ngọc ngà gì cả ( tại Tý / Ngọ cũng vậy ). Sách chỉ nói Cự - Cơ Tý / Ngọ là Thạch trung ẩn ngọc nên có sự hiểu lầm như vậy , thật ra Cách này xuất hiện ở nhiều Cung khác nhau , nếu hội Cát tinh vẫn là những nhân tài có xuất chúng vươn lên từ địa vị nghèo hèn , do đó theo đại thể không có gì khác với Thạch trung ẩn ngọc cư Tý / Ngọ .

Ở mỗi cung vị đều khác nhau về Cách thức gia giảm , chẳng hạn Cự - Cơ Mão / Dậu cũng là 1 cách Thạch trung ẩn ngọc nhưng dùng Song Hao hơn là Tuần / Triệt , còn những Cung khác thì tui chưa làm 1 research đầy đủ nên chưa dám trả lời .

Hóa Kỵ = Hắc vân , vết nám , vết đen , dấu vết ... Miếng ngọc hay hạt kim cương mà bị dấu vết , bụi than chẳng hạn thì bị giảm giá trị .
Nói chung Cách Cự - Cơ theo Tượng hình = Một hòn đá lớn , hòn đá này muốn có được ngọc ngà châu báu bên trong thì phải trải qua trăm ngàn ma chiết ,học hành mài dũa kinh sách mới có ngày từ vũng đất lầy trở mình thành 1 báu vật tương tự như trường hợp cuộc đời của Ts Ngô bảo Châu vậy .

Và :


Thưa bác, Nhật-Cự nhập Mệnh tại Dần thì Cơ,Lương đóng Phúc
Đức tại Thìn. Còn khi có Cự-Cơ Mão-Dậu thì có Nhật-Nguyệt
đồng tranh tại Sửu-Mùi. HPB thắc mắc là tại sao lại có
Cự-Cơ trong mục Nhật-Cự Dần-Thân ạ?


Trả lời :

Cách Cự - Nhật tại Dần nếu đúng tại Thiên di cung thì sẽ thấy CƠ tại Thìn , CỰ tại Dần , hợp lại cũng là Cự - CƠ ,
Vì nói đến Dư luận bên ngoài , do đó ta phải đứng ở cung Thiên di để quan sát , nếu đứng tại cung Dần / Thân cũng có thể giải thích nhưng không rõ bằng . Điều này cũng như khi ta đã nổi tiếng thì Dư luận Quần chúng sẽ đánh giá Ta qua các mặt : Bản Thân ( Mệnh cung = Cư - Nhật ) ) / Họ Hàng , gia tộc ( Phúc cung = Cơ - Lương ) và tác phong của Bà Vợ ( Tý cung = Đồng Âm ) . Từ đó người ta mới biết có nên thuận phò hay không .vì Quần chúng , xã hội có thể hiểu là Thiên Di nên phải đứng ở Thiên Di để quan sát .
Khi đối chiếu với các lá số thực tiễn bên ngoài , ngoài Cách Thạch trung ẩn ngọc có nhiều biến thể ,( không chỉ giới hạn ở Tý/ Ngọ )một số cách khác cũng vậy , chẳng hạn Cách Đồng Âm cư Tý phùng Thiên việt mà sách nói là cách đàn bà rất đẹp và Quý cách :

Phúc diệu phùng Việt diệu ư Tý cung , định thị hải hà dục tú .

Hải hà dục tú có người dịch là đẹp đẽ uy nghi như sóng biển thì e chưa diễn dịch cái ý của nó , theo tui thì Hải hà = ráng mây trên mặt biển, Dục = Ánh sáng mặt trời trong 1 ngày tươi đẹp ( 1 ngày không u ám , gọi là Minh nhật = 1 ngày trong sáng ) , cũng như từ Dục dục = ánh sáng mặt trời chói lọi làm đoạt mục , phải quay mắt đi chỗ khác , nét đẹp đoạt mục có nghĩa là đẹp và quyến rũ quá xá làm ta phải tránh mắt đi chỗ khác nếu không muốn bị ...đọat hồn ,

Tại sao lại dùng Thiên Việt ??

Thiên Khôi là chỉ nét đẹp của Đàn ông ( Khôi ngô ) hoặc nét dẹp có tính cách lồ lộ pha nét Dương tính của Đàn bà ( như Hồng - Khôi ), chẳng hạn vẻ đẹp của Elizabeth Taylor , Vẻ đẹp Thái Âm - Kỵ cư Hợi của Đàn Bà ( như của Brooks Shields ) có thể nói là tương đương với Đồng Âm - Việt . Nhưng Thái Âm thiên về Tròn trịa nên ngoài 30 tuổi thường giảm tốc độ , vì bị xồ xề ...

Còn Thiên Việt thuộc Âm tính , nét đẹp có vẻ nhu mỵ và có chiều sâu ( có duyên ) hơn . Cái đẹp ở thế Đồng Âm cư Tý / Dậu có Dương bản là vẻ đẹp của Thái Dương - Thiên Không - Hóa Kỵ cư Mão ( Vạn lý vô vân Cách ) Hóa Kỵ đi với Thái Dương ở đây cũng có nghĩa là ánh sáng mặt trời mới nhô lên chiếu xuyên qua lớp mây sớm tạo thành những chòm rainbows ngũ sắc . Cách Thái Dương cư Mão thì dùng Thiên Không , còn Thiên Đồng cư Dậu thì dùng Địa Không , cùng ám chỉ là buổi trời có không gian trong trẻo ,không mây , chỉ khác nhau buổi sáng và chiều mà thôi .

Vì Khôi / Việt đều là Quý tinh nên nét đẹp của Họ đều có dáng dáp cao quý .

Tú = Vẻ đẹp .


Có Bạn nào nhà ở gần biển và thường dạo biển vào buổi chiều khi mặt trời sắp lặn thì mới thấy được cái đẹp thu hồn này , mặt trời từ từ lặn xuống đáy biển tỏa ánh sáng còn đọng lại xuyên qua 1 vùng mây ráng ...

Gộp lại các từ này ta có thể hiểu đại loại là :
Ánh sáng hoàng hôn trên mặt biển chiếu xuyên qua lớp mây ráng sẽ tạo nên 1 vẻ đẹp rực rỡ huyền kỳ...để diễn tả vẻ đẹp Hải hà dục tú tui xin đơn cử 1 Cô đào ci la ma của Pháp lang sa , đó là Sophie Marceaux :

Sinh : 17 NOV , 1966 . Giờ = 2 : 30 AM , Nhưng đừng dùng giờ SỬU mà phải xài giờ DẦN mới đúng .

Lá số này cũng thuộc Cách Hải hà dục tú nhưng không cần cư TÝ .
Cung Quan lộc có Vạn lý vô vân Cách cũng đẹp ( đẹp về công danh / sự nghiệp ) .
Như Mệnh Thái Âm cư Hợi , Quan lộc có DƯƠNG - LƯƠNG tại Mão + LƯU HÀ - THIÊN HƯ . Đây cũng là 1 Cách của VLVV , nhưng ít người biết đến .

Ở đây Lưu Hà = Ráng trời .
Thiên Hư = Không trung .
Thiên lương = ngày đẹp ,trong xanh và có gió mát .

Cho thấy Lưu hà có thể thay Hóa Kỵ , Thiên Hư có thể thay Thiên / Địa Không .


14/ PHÁ QUÂN THÌN / TUẤT :

TƯỢNG :

A/ - CÔ NGƯ LẬU VÕNG
( Cá lọt lưới Trời )

PHÊ : - CƯƠNG QUẢ CHI NHÂN .
( Nếu không có Tuần )

B/ - NGOAI CỪU QUY THUẬN .

PHÊ : - CẢI ÁC VI LƯƠNG .
( Nếu có Khoa/ Tuần )


CÁCH CỤC :

- BÍNH / MẬU = Tài Quan cách , phú quý .
- GIÁP / QUÝ = Được hưởng Phúc lộc .
- Gia Xương - Khúc = Nếu không Cát tinh , là kẻ bần sĩ , Hình khắc lao lực .
- Gia Kình / Đà Đ/c + Sát tinh = Có thể Tàn tật .Là loại bất trung bất nghĩa , tiên Thành hậu Bại .
- Thêm Hỏa -Linh = Bôn ba gian khổ .
- Kình /Đà + Hao - Kiếp tại Quan = Đáo xứ khất cầu .
- Hội Kình - Đà hoặc Linh - Hỏa + Lộc tồn = Nên Kinh thương .
- Mệnh PHÁ , Thân có KÌNH / ĐÀ , hoặc Thân cư Mệnh có PHÁ - KÌNH = Là kẻ thích làm rối loạn xã hội , chống kẻ đương Quyền , đây là KHÍ CÔNG HỌA LOẠN Cách . Thường hoạnh phát nhất thời , cuối cùng bị phá bại .
* PHÁ - CÁI - ĐÀO = Hôn nhân thiếu hạnh phúc .
* PHÁ - Phục Hình Riêu Tướng = Vì ghen mà Vợ/ Chồng có thể sát hại nhau .
* PHÁ - Binh Hình Tướng Ấn = Tướng lãnh tài ba .
* PHÁ - Hình - Quyền / Hình - Lộc + Cát tinh = Phá cư Tứ Mộ thường là kẻ cương quả ( Kiên cường và Cô độc ) , ngộ Cát tinh hoặc Hạn vận Tốt gặp thời loạn lạc có thể làm nên sự nghiệp hiển hách , tiếng tăm lừng lẫy , muôn người khiếp sợ , là LOẠN THẾ ANH HÙNG Cách .
* PHÁ - Xương Khúc - Khôi Việt Khoa = Là nhà nghiên cứu giỏi , nổi tiếng .
* PHÁ Thìn / Tuất ngộ Khoa / - Tuần = Phá quân Thìn / Tuất là kẻ bất kiên lệ luật , cương cường cô độc , tình cảm dứt khoát , thường phá bỏ quan hệ tình cảm nên bị xem là kẻ bất nhân . Dĩ nhiên không phải ai có PHÁ QUÂN Thìn / Tuất cũng là kẻ bất nhân . Cách này nếu ngộ TUẦN / KHOA ( Hay cả hai càng tốt ) thì thành ra Cách CẢI ÁC VI LƯƠNG , là người Thiện lương , tuổi MẬU / QUÝ có Cách này dễ hoạnh phát tài danh ...


* PHÁ - KÌNH + Tả- hữu = Khởi Ngụy Hoàng Sào . Không ai có lá số của Hoàng Sào ( 1 lãnh tụ nông dân khởi nghĩa ngày xưa ) nên chẳng biết Cách cục ra sao , Ông N C Kỳ khi xưa làm Kách mệnh cũng đi xem thầy bói ( Thầy Minh Lộc ? ) Thầy phán được ! mới dám ra mặt hành động .

* PHÁ Hãm Thiên thương ư Thủy cung = Vương Bột đầu Hà ! Vương Bột là 1 Thi nhân nổi tiếng , Cha bị biếm trích làm Thái thú ở Giao châu ( Bắc Việt ) sau khi làm bài Phú ĐẰNG VƯƠNG CÁC , chàng xuống thuyền đi Giao chỉ thăm Cha thì bị bão đánh chìm ( chắc ở phía Nam Quảng châu sau này ) , khi được cứu lên bờ thì thần trí gần như điên dại , rất nhút nhát , ít lâu sau thì mất . Hàn mặc tử năm 17/ 18 cũng bị chết đuối ở biển Quy nhơn , cũng bị tán loạn thần kinh 1 thời gian .
Cách Phá Hãm cư Thiên thương này cũng chính là Cách Vũ Phá Tham hội ư TÝ / Thủy cung trong các câu Phú .

* PHÁ Hao Kình Linh Quan lộc vị = Đáo xứ khất cầu .
* PHÁ Hãm địa gia Sát tinh = Xảo nghiệp an thân ( làm những nghề lao động khéo tay thì có cuộc sống ổn định .), Bất thủ Tổ nghiệp , dễ bị tàn tật , nghi Tăng đạo .

* Nữ nhân tọa PHÁ có Sát tinh xâm phá = Dâm đảng , vô sỉ .
* PHÁ Liêm Hỏa = Quyết khởi Quan phương , tính nóng nảy bạo tợn nên dễ bị liên quan đến hình luật .
* PHÁ - Hóa Lộc - Không Kiếp = Bạo phát bạo phá .
* PHÁ Hình Kỵ = Có thể bị tàn tật .

* PHÁ - Kiếp - Kỵ = Kẻ bị đố kỵ .
* PHÁ - Kình - Đào - Hồng = Tranh dành gái đẹp .
* PHÁ - Phục - Kỵ - Đào - Hồng = Tranh dành Vợ / đào của kẻ khác .

* PHÁ - Xương Khúc = Nếu không có Cát tinh nào khác ,Phú gọi là : Nan bão vân song chi hận ( thường mang mối tình hận trong lòng ,
[Có phải là...]
Tất cả...
-Những thứ mong manh......đều dễ vỡ?????
-Những thứ hời hợt......đều dễ quên?????
-Những thứ xa vời......đều dễ mất???
-Những thứ chân thật......đều dễ bị tổn thương???
Và...
-Những gì giả dối...
...luôn chiến thắng???
Tự kỉ
Tạm Biệt

Trả lời


Messages In This Thread
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:00 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:00 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:01 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:02 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi anh309 - 04-07-2012, 09:45 AM

Các chủ đề có liên quan...
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới gửi
  [Sưu tầm] Các trục trong tử vi vào sao Âm Sát redsquare2004 3 218 13-07-2012, 10:38 AM
Bài mới gửi: Tiểu Vô Thường
  Vợ chồng trong Tử Vi Tầm Sư Học Đạo 14 858 26-05-2012, 10:58 AM
Bài mới gửi: hanh_tay_mot_nua
  Một số ứng dụng của Tử Vi trong cuộc sống ! Khoai 10 481 24-05-2012, 11:10 PM
Bài mới gửi: giakhoa
  Bửu Đình . Một Số Câu Phú Trong Tủ Vi Bị Giải Thích Sai Người Lái Đò 3 293 21-05-2012, 12:49 PM
Bài mới gửi: Người Lái Đò
  Các cách xác định giờ sinh trong Tử vi Người Lái Đò 6 536 16-05-2012, 12:39 AM
Bài mới gửi: Fengshui
  Bài viết trong lớp học Tử Vi - Cùng bàn luận và góp ý Khoai 24 1,439 20-03-2012, 02:44 AM
Bài mới gửi: Khoai
  LỘC TỒN ý nghĩ trong PHÚC LỘC THỌ baochinh 1 302 14-03-2012, 05:39 PM
Bài mới gửi: narutohmu88
  Bàn về các chính tinh trong tử vi Cú đấm thép 3 384 26-02-2012, 04:22 PM
Bài mới gửi: Gia Lương
  Phép Lưu Cung trong đoán Hạn (Vui Vui tiên sinh) huuduyen 0 131 19-02-2012, 10:40 PM
Bài mới gửi: huuduyen

Chuyển đến diễn đàn:


Những người đang xem chủ đề này: 1 khách