Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Các thế cờ trong tử vi [ST]
#3
8/ THẾ LIÊM TRINH ĐỘC THỦ DẦN / THÂN :

TƯỢNG : - TIÊN PHUÔNG VÕ TƯỚNG .
- HIỀN TÀI DŨNG KHÍ .

PHÊ : - PHÚ QUÝ THANH DƯƠNG .


A / LIÊM tại DẦN :

- GIÁP / KỶ / CANH = Nhập Quý cách . Nhất là chữ GIÁP , là Cách Phủ tướng Triều Viên , vị đăng nhất phẩm , thực lộc Thiên chung .

- ĐINH = Hạng thứ ( đứng hạng Nhì )
- Ngộ VĂN XƯƠNG = thích và giỏi về lễ nhạc .
- Ngộ LỘC TỒN = Có thể Phú quý .
- Cùng với ĐÀ LA = Bệnh nung mủ, lở chóc .

- Nữ Mệnh , BÍNH / TÂN / ẤT / MẬU = Năng thanh bạch .

B/ LIÊM tại THÂN :

- GIÁP / MẬU / CANH = Nhập Quý cách .GIÁP sinh nhân là Cách Phủ Tướng triều viên ,Thiên chung thực lộc .

- BÍNH / ĐINH / KỶ = Hạng Thứ .

- MÙI / THÂN + HÓA LỘC - CÁT TINH = Phú quý cách . Nếu không có Tứ Sát thì Phú quý và danh tiếng .

- Ngộ VĂN XƯƠNG = Giỏi về lễ nhạc .
- Ngộ LỘC TỒN = Khả phú quý .
- Cùng ĐÀ LA = Bệnh nung mủ .

- HỎA TINH đồng tại Hãm / KHÔNG chi địa = Đầu hà tự tử .

- Nũ Mệnh : GIÁP / KỶ / CANH / QUÝ = Năng thanh bạch .

LIÊM TRINH thuộc về Âm HỎA , cư DẦN cung được xem là Miếu thì không có gì lạ , nhưng Liêm Hỏa cư THÂN là KIM cung , là tượng Cung bị Tinh khắc theo lý ngũ Hành thì đâu có Tốt , tại sao các sách đều ghi là Miếu / Vượng ?
Vấn đề này xin được giải thích như sau :
Âm Hỏa bản chất nhu nhược và đôi khi vô hình ví như lửa từ các ngọn đèn , lửa đuốc , và dưới dạng vô hình là Điện , THÂN = Dương Kim thường không sợ Âm Hỏa ,mà nhiều khi còn giúp sự vận hành của Âm Hỏa , chẳng hạn như giây điện , cột điện là Kim thì giúp cho chuyển động của điện là Âm Hỏa .

Đặc tính của Kim đối với Hỏa như vậy cũng tùy trường hợp , không phải lúc nào Kim cũng sợ Hỏa , ví dụ như Kim bạc Kim Bạch lạp Kim , Sa trung Kim ...thì sợ Lô trung Hỏa , nhưng Kiếm phong Kim thì lại cần Lô trung hỏa nếu không thì không thể thành hình . Cho nên có thể nói Liêm trinh Hỏa đối với Canh Kim tại Thân cũng cùng 1 lý như Lô trung Hỏa đối với Kiếm phong Kim .

Về tư thế thì Liêm cư DẦN được MỘC sinh dĩ nhiên là có ưu điểm hơn Liêm tại THÂN , các vị trí Chính tinh khác như Tử - Tường / Vũ - Phủ cũng không sai biệt nhiều , có thể nói là các Tinh tú hội chiếu tại 2 vị trí Dần / Thân tương đối ít có sai biệt .

PHỤ CÁCH :

* LIÊM TRINH cư THÂN / MÙI vô SÁT = Phú quý , tiếng tăm lừng lẫy .
* LIÊM tại THÂN = Hùng tú Triều nguyên Cách , nếu ít ngộ SÁT tinh ( Sát tinh , Hao Hình Kỵ ) Và đa hội CÁT diệu là Cách Phú quý song toàn .

* Liêm tọa Cấn / Khôn ( Dần / Thân ) Nữ Mệnh trích lệ thương Phu =
Đàn bà nếu ngộ thêm CÔ - QUẢ thì dễ bị độc thân , cô đơn góa bụa , hoặc buồn thương vì Chồng , dễ đi vào đường tu hành , đàn ông cũng vậy .

* LIÊM tọa DẦN / THÂN , bán Văn bán Võ ( đa tài , văn võ song toàn ) nếu ngộ Tử tinh = Chủ về Võ nghiệp .
* LIÊM - KHÔNG - KIẾP = Thăng trầm ,
* LIÊM - THAM + KHÔNG - KIẾP -KỴ = Tự vẫn .
* LIÊM - HỎA - KIẾP- KHÔNG = Tự vẫn .

* LIÊM -HAO - KHÔNG -KIẾP = Hao tán , phá sản .
* LIÊM -HỎA / LINH = Nóng tính , cực đoan , bôn ba .
, Hùng tú triều nguyên bị phá Cách .

* LIÊM - LỘC TỒN / HÓA LỘC = Thuộc Cách Liêm trinh năng thanh bạch .

* DI có THAM - HỎA - LỘC = Đột phát tiền tài .


SONG LỘC Đồng cung thế lực rất to lớn , Nhị Lộc giao huy làm sao sánh bằng ( dĩ nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ , vì còn tùy theo cung vị và cách cục đắc hãm của Chính tinh và Phụ tinh ) nhưng đây là lý lẽ thông thường , chẳng hạn như KIẾP KHÔNG Đồng cung thì lực lượng phải mạnh hơn là đơn thủ , Đào- Riêu đ/c / Cự - Kỵ đ/c .v.v đều như vậy , có những câu sách nói
nhưng không đúng hoặc khuyếm khuyết , Cách Song Lộc đ/c không phải dễ có

V FOR đã viết:

ma y cung đã viết:

THẾ CỰ - CƠ M/ D :

PHÚ HỮU LÂU ĐÀI :

CỰ = TO LỚN
CƠ = CƠ NGƠI , CƠ SỞ .
Giời ạ, MYC nói như rứa không sợ bị chỉnh à ???


Thưa Huynh V for,

Thường thì mỗi Tinh tú đều có Tượng của nó và một TINH lắm khi có nhiều TƯỢNG chứ không phải 1 vài .
Việc chọn Tượng dĩ nhiên là tùy theo Trường hợp chọn sao cho phù hợp , Ví như sao Thái Âm có khi ta luận Mẹ , có lúc là con gái, có khi là mái gia đình hay điền sản , như xem Mẹ bị bệnh thì dĩ nhiên phải lấy nghĩa Thái Âm là Mẹ chứ không thể suy Âm = điền sản được .

Câu Tượng của CỰ - CƠ M / D là PHÚ HỮU LÂU ĐÀI thì không thể luận CỰ là Khát vọng , CƠ là Mưu sĩ được ,Mưu sĩ khác vọng không ăn nhập gì đến Câu Thiệu cả . nếu không thông hiểu tương đối đầy đủ các Tượng của cùng 1 Tinh tú . ( Dĩ nhiên là không dùng Tượng Tầm bậy hay do mình create ra ) thì rất khó để phân tích từng Thế trận , đó là lý do cho mãi đến nay chẳng có sách nào chịu PHÂN GIẢI , ngay cả VƯƠNG ĐÌNH CHI cũng không hề giải PHÊ và TƯỢNG , chưa nói đến Thế trận .

Cái khó của việc giải Phê / Tượng cũng giống như việc ngồi giải thích Thoán từ bên Dịch học . THOÁN TỪ rất QUAN TRỌNG vì vậy người ta mới đặt nó lên đầu Mỗi Quái , Và có khi Anh giải được mươi , mười lăm Quái , nhưng đụng đến Quẻ thứ 16 thì như đụng phải 1 bức tường , không thể đi tiếp được nữa .
Có những câu phú tuy thấy tầm thường nhưng nghĩa lý rất Hay ,như :

CƠ - LƯƠNG THÁI TUẾ TANG MÔN , lâm vào chốn ấy vợ con biếng chiều !

Tại sao Cơ Lương Tang tuế mà liên quan gì đến Vợ con biếng chiều ???

Hiểu được Tượng mới biết được phú là vậy , hiểu được Phú thì càng thấy chỗ thâm áo của Tử vi .

NẾU mình đưa ra 1 cau PHÚ không ai biết nguồn gốc và chưa bao giờ nghe thì bị hoài nghi , thì bây giờ tui đưa ra 1 ít TƯỢNG mới mà bị nghi ngờ thì cũng không có gì lạ , thời gian sẽ trả lời ,

Các Tượng của mỗi TINH TÚ xưa nay vẫn bị dấu diếm , Tượng được phân thành nhiều loại : Vật phẩm , đồ dùng , nhân vật , địa hình , thời tiết .v.v Nếu nắm Tượng đúng thì LUẬN đúng với thực tế lá số , hiểu Tượng sai thì đoán trật là lẽ đương nhiên .

Việc lựa chọn Tượng LÀ DO NHẬN XÉT CÁ BIỆT và ĐỘC ĐĂC theo HIỂU BIẾT của MỖI NGƯỜI VÀ vì tôi không ép Các HUYNH phải theo Tượng như tôi đề ra nên xin các Huynh cũng đừng thắc mắc tại sao tôi dùng Tượng lạ đời như vậy .
Mỗi Thế cách đều có vài 3 Tượng khác nhau , tôi lựa Tượng nào theo tôi nghĩ là biểu hiện nhất của Cách đó , và có thể vài người không đồng ý , nhưng làm sao mà thập toàn cho được . Hôm nay tôi viết thế này , ngày Mai có người khác giỏi hơn tôi sẽ viết khác , vì cái nhìn của Họ cao hơn ...

XIN tiếp tục về Thế LIÊM cư D / T :

- LIÊM cư DẦN hay THÂN thì đều được TỬ - PHỦ - VŨ - TƯỚNG Chiếu hội , Tử - Phủ là Chỉ về những thế lực Quyền Quý , Tướng là Chưởng Ấn tinh , chủ về Hành pháp Trung ương , có vai trò như một Thủ Tướng , còn Phủ là Bộ Trưởng Kinh Tế kiêm Ngân Hàng Quốc gia .

Như vậy có nghĩa là Thế lực của LIÊM TRINH ở vị trí Dần / Thân có Tiềm năng rất to lớn , giao du quen biết hoặc làm việc với các cấp Quyền thế , và có thể được sự ủng hộ của họ . Nhưng dĩ nhiên là phải tùy theo Cấp độ của từng lá số , không phải Liêm nào cũng quen biết với Các Ngài Thống đốc Ngân Hàng hay Chủ Tịch nước , có khi chỉ là ở cấp Giám đốc 1 Chi nhánh Ngân hàng hay thậm chí chỉ là Chủ ...tiệm Cầm đồ .

- Trên 1 lá số LIÊM cư D / T Tốt đẹp , vì Tài Quan hội đủ Cách Tử - Phủ - Vũ - Tướng , nên tự thân có khả năng gồm đủ Phú ( Vũ - Phủ ) Quý ( Tử - Phủ ) và Uy Quyền ( Tướng ) ,nếu Mệnh cư Thân cung là Cách Hùng tú triều nguyên , vì vậy sách nói là Phú Quý thanh dương chiếm viễn danh = Phú quý và danh tiếng vang dội xa gần .

- LIÊM D/ T có Đối cung là THAM LANG nhàn tảng ( Nhàn cung ) , hai anh chàng này đều được mệnh danh là CHÍNH / THỨ ĐÀO HOA , nên suốt đời không chạy trốn được sự vây bủa của lưới tình , thường dễ cô đơn ,tuyệt vọng , Liêm thường là người chung tình mà những kẻ chung tình lại thường bị tình phụ ! bỡi thích đối tượng có tính cách phản lại với tính cách của mình ( nên mới dễ hình thành thế Âm Dương ) ...Đối cung Tham lang có thể hiểu là đối tượng truy cầu trong mộng của Liêm trinh , mà Tham lang thì làm sao tin tưởng chính chuyên ? KẾT HỢP với PHU / THÊ CUNG ở Thế THẤT SÁT , ở Thế này thì bị Tảo khắc , tảo khắc thì thường được khuyên là không nên cưới hỏi sớm vì chưa đằm tính , ở với nhau vài 3 năm thì đồng sàng dị mộng , tiếng chì tiếng bấc vì Liêm HỎA khắc Thất Sát KIM , nhưng Thất Sát là Dương Kim , khắc thì khắc nhưng nếu biết nhường nhịn thì vẫn có thể sống với nhau lâu dài vì Âm Hỏa Dương Kim kết hợp vẫn có tác dụng Tốt đẹp như bên trên đã đề cập ..

VỀ vấn đề dùng ĐỐI CUNG ( THIÊN DI CUNG ) làm Tượng cho 1 PHU / THÊ CUNG THỨ HAI :

Đây là phát hiện qua 1 số kinh nghiệm của tui , vì khi lớn lên và đã có gia đình , mỗi ngày thức dậy người mình gặp lá AI ? người đó có thể gọi là ĐỐI PHƯƠNG hay không ? Nếu không sai thì chúng ta có thể dùng THIÊN DI cung để chỉ cho người Hôn phối trong các Trường hợp thấy PHU / THÊ cung không Chính xác . Cũng như Nếu Thấy Phu / Thê cung không có TRUYỀN TINH thì nên xét đến THIÊN DI cung .

TANG MÔN là 1 sao chủ về buồn thương , buồn rầu nhung nhớ , lo buồn , ưu lo ..Nếu đóng tại PHU / THÊ thì có sự lo buồn , đau khổ nhưng không hẵn có nghĩa hoàn toàn là người Phối ngẫu phải ...đi trước . ngoài ý nghĩa người Phối ngẫu đi trước Tang tại Phối còn có nghĩa hai bên có 1 Thời gian chia tay lên tối vài năm trước khi sum họp lại , hoặc là cứ quen người nào 1 Thời gian rồi cũng chia tay , liên tục mấy lần như vậy .


9/ THẾ THIÊN CƠ SỬU / MÙI :

TƯỢNG : - MƯU THẦN ẨN DẬT .
- QUÂN SƯ CHỜ THỜI .

PHÊ : - MƯU THẦN ĐẮC THẾ ( Gia Cát Tinh ).
- ẨN SĨ THẤT THỜI . ( Vô Cát )
- AN NHÀN HƯỞNG LỘC
- THIỆN ĐÀM BINH .


CÁCH CỤC :

- BÍNH / ĐINH / MẬU / NHÂM = Tài Quan song mỹ .
- ẤT / TÂN = LỘC HỢP Cách .
- Hội TẢ HỮU XƯƠNG KHÚC = Là Văn Quan thanh hiển , Võ Quan trung lương .

- TỨ SÁT xung phá = Hạ cuộc . Nên quay ra Kinh doanh , hoặc phát triển về Kỷ nghệ .
- ÁC SÁT Đồng cung = là loại trôm cắp .
- THIÊN DI + CÁT TINH = Cự thương cao mãi ( buôn bán lớn ).
- THIÊN LƯƠNG Đối cung = Hữu Thọ ( sống lâu ).

CÁCH CỤC :

Thiên Cơ thuộc Âm Mộc , người sinh năm ẤT/ MÃO thì càng biểu hiện rõ nét của Thiên Cơ , Thiên Cơ có những đặc tính sau :

- Từ tâm ,từ thiện , sùng tín Tôn giáo ,
- Mưu trí , đa Tài đa nghệ , năng động , cứng đầu ..

Tọa SỬU / MÙI Thiên Cơ bị Lạc Hãm nên rất cần Cát Tinh - Lộc tinh ( Lộc tồn / Hóa Lộc ) để giúp Cách cục trở nên Tốt đẹp . Nếu Vô Cát tinh , cuộc sống vất vả , ngộ Sát có thể nghèo khốn , bữa đói bữa no .

- THIÊN CƠ tại Viên = Xảo tài xuất chúng .
- THIÊN CƠ cư SỬU , đắc Thủy diệu = Hợp Cách vì Thiên cơ là Mộc cư Âm Thổ lại ngộ Thủy tinh nuôi dưỡng , Tài Quan song mỹ .

- CƠ - LƯƠNG tương hội = Dây cũng là cách Thiện đàm binh , cơ mưu quyền biến nhưng không đẹp / sáng bằng tại Thìn / Tuất .

-CƠ - LƯƠNG - KÌNH DƯƠNG Hội = Tảo vãn cô hình , có cách này dễ bị Cô đơn , đàn bà có thể góa bụa .

- CƠ - HÓA LỘC = Tài lai tài khứ , khó nắm giữ tiền bạc , nhưng dễ có cơ hội kiếm nhiều tiền .

-CƠ - KHOA = Cách này cần thêm Văn tinh ( Khôi - Việt / Khúc xương ) , có thể dùng KÌNH / ĐÀ , để tạo thành Văn cách nổi bật .

- CƠ - KỴ Nữ Mệnh = Nếu có đa Cát tinh thì Cơ - Cự thành cách Thạch trung ẩn ngọc , ngộ KỴ nơi Mệnh sẽ biến thành Cách Mỹ ngọc hà tỳ ( Ngọc đẹp bị vết ), đời sống tình cảm có khúc mắc , buồn phiền không xứng ý cũng cứ giữ kín trong tâm , không chịu thố lộ .

- CƠ - Đa Văn tinh = Ngoài khả năng phát triển trên lãnh vực Văn chương , có thể là nhân viên Hành chánh , Văn phòng cao cấp , Kỷ sư , Kiều lộ , Công trình , Kiến trúc sư .v.v
Hoặc giả có thể làm Tham mưu , Cố vấn cho các Lãnh tụ , vì Giáp cung có TỬ - PHỦ . Trường hợp này gọi là Cận Quý Cách .

- THIÊN CƠ - TỨ SÁT Hội = Dã thiện tam phân , người có Thiên cơ hội Tứ Sát dù đa Sát tinh , nhưng vì căn bản là kẻ có chút từ tâm , lại có lòng tin vào các dấng thiên liêng ( Tôn giáo ) , cơ duyên nhân quả .. nên dù sao cũng không phải là loại cùng hung cực Ác . Đời sống long đong vất vả .

- CƠ - MÃ THIÊN DI = làm công vụ ờ nước ngoài .
- CƠ - PHỤC cư NGỌ = làm Quan chức về quân đội .
- CƠ Hãm Địa + HÌNH - KỴ = Cô độc , dễ bị tàn tật .

- CƠ -TỬ - HAO = Bị đói , diet , Hạn xấu có thể chết vì đói , như bị bệnh bao tử , không ăn được , có cơm gạo nhưng đang bệnh không ai lo cơm nước bị lũy mà đi luôn .

- CƠ - XƯƠNG -KHÚC = Đa tài , mẫn tiệp , linh lợi , liếng thuắng , vui vẻ , đa dâm và đa tình .

- CƠ - LƯƠNG -TANG - TUẾ = Nhẹ thì vợ con lánh mặt , lạnh lùng , nặng thì có thể ly thân 1 thời gian .

- CƠ S/M + HÌNH - KỴ (+ KIẾP -KHÔNG / Thiên Hư - Âm Sát ) = là loại Trộm cắp .

- THIÊN DI có LƯƠNG + CÁT TINH + LỘC TINH = Cự thương cao mãi Cách . Nếu Mệnh cung không đẹp nên đi xa lập nghiệp .

- CƠ -HỎA / - LINH ( RIÊU ) = Có khả năng nhìn thấy , mơ thấy , tiếp xúc đựoc với thế giới bên kia . dễ bị Ma nhập , ma ám .

- CƠ - KÌNH / -ĐÀ = thường gặp chuyện xung đột ,thị phi , phiền toái vì tính ưa chống đối . Cơ hội tốt bị ngăn trở . Nếu ngộ thêm XƯƠNG - KHÚC = Chống đối thông qua văn chương , nghệ thuật .

- CƠ - KÌNH + KỴ -HÌNH - KIẾP = Sự chống đối chỉ đem lại tai họa .

- CƠ - KHÔNG - KIẾP = Bất hạnh , kém may mắn , lớn tuổi thường bị bệnh gan, thận , mật .
Dễ bị mất Cơ hội , mất nhà , mất chỗ ở .

- CƠ -HÌNH -KỴ = Ưa Chống đối .

- CƠ - KHỐC -HƯ = Bị bệnh Phổi , ho , ho lao , bệnh Phong đơn , mất ngủ .

- CƠ - HƯ - ÂM SÁT = là kẻ bất chính , nhiều âm mưu quỷ kế .

- CƠ - ĐÀO -HỒNG -XƯƠNG -KHÚC = Đẹp , quyến rũ , đa tình , đa dâm . Ưa thi từ , ca hát .


THIÊN CƠ SỬU / MÙI :

- THIÊN CƠ tọa SỬU :

Cơ tại Sửu thì Mệnh Hãm nếu không có Thủy tinh phù trợ , Tài cung Thiên Đồng Hãm địa ( về ngũ Hành Mệnh tọa Thiên đồng cư Dậu là Đắc địa vì Thủy được Kim sinh nhưng về mặt Tính lý cũng như phối hợp ảnh hưởng các Sao thì bị liệt vào Hãm địa ), Thiên đồng lại chủ tự mình gầy dựng cơ đồ không ai giúp đỡ và phát chậm kết hợp với Quan cung Cự môn đắc Vượng thì khoảng Trung niên cũng có cơ hội để phát triển sự nghiệp .
Thiên Cơ tại Sửu thì Tử vi - Thiên Phủ tại Dần Miếu / Vượng , chứng tỏ là đời ông bà ( hoặc Cha Mẹ vì đây cũng là Phụ mẫu cung ) phải khá giả hoặc có sản nghiệp , đến khi mình ra đời mới bị suy vi .

Về tầm vóc quốc gia mà luận thì Tử vi đang hồi thu tóm quyền hành ,Vua đang ở tuổi Tráng niên ( đã qua 3 Đại hạn ) cho nên có thuyết nói Thiên Phủ chính là Hoàng hậu , dù đất nước vẫn còn trong tình trạng ảm đạm ( Âm Dương Hãm ) nhưng vấn đề Kinh tế rất hứa hẹn và về mặt Quốc phòng thì rẩt vững vàng . Nhà Vua lúc này đang lo tuyển lựa nhân tài ra công giúp nước , Thiên Cơ cư Sửu lại ở vị thế Cận Quý nhưng nếu không có Cát tinh gia tập thì hoặc là kẻ vô Tài, chỉ giỏi biện thuyết hão huyền hoặc không có cơ hội được tiến cử .

Thiên cơ cư Sửu thì Phối cung Thái dương Hãm địa , Vợ chồng cũng như mình xuất thân là đám bình dân , nếu đương sự là đàn bà thì thì thường trách móc /sỉ vả Chồng con , gia đạo khiếm hòa .

-THIÊN CƠ tọa MÙI :

Mùi cung là Tháng 6 , tháng sáu bị Hạ Hỏa làm khô táo Thổ chất , cuối tháng sáu là Tiết Lập Thu có nghĩa là Mùi cung Thổ đang tiết khí để sinh Kim nên ở trạng thái hư nhược , vì vậy tại Mùi Thổ chất vừa Khô vừa Hư nhược khó có thể sinh Mộc ( Thiên Cơ ) nên gọi là Hãm địa . Vì Thổ chất Khô và Hư nên không những không tài bồi được cho Mộc mà còn có nguy cơ che lấp , chôn vùi Mộc khí ( tại Mùi Mộc khí đang Suy vì Thiên khí sắp ngã về Tây phương ) . Để nuôi dưỡng Thổ khí tại đây thì cần Kim , Kim tại đây ví như lưỡi cày để xới vỡ đất khô cứng , Kim cũng dùng để dưỡng Thổ khí ( lý luận có vẻ nghịch nhĩ ! ) , không để Thổ quá sức Tiết khí và dùng làm Nguồn để sinh cho Thủy vì Hạ Thổ chắc chắn cần Thủy . Tóm lại Mùi Thổ thì cần nhất là Kim / Thủy .

Về mặt Xã hội , Thiên Cơ cư Mùi vì hưởng Âm Dương sáng đẹp nên về mặt Phúc phận , Hôn phối và Hành Vận đều sáng sủa hơn tại Sửu , Đàn bà dễ có cuộc sống ung dung vì được nhờ Chồng vì có ông Chồng tháo vát hoặc có địa vị và biết cách kiếm tiền , tuy vậy Vợ Chồng không tránh khỏi khắc khẩu , có thể ngày càng tệ hại .

Bên trên là lý luận về mặt CUNG KHÍ , có thể nói là thuộc 1 trang Cao cấp ( Hì hì , lại Cao cấp , nghèo mà đòi xài hàng xịn không hè ), rất ít người sử dụng cũng như giải thích . Cung Khí có 3 cách xem Chính :

như trên là Cách dùng Âm Dương Ngũ Hành để luận Cung khí .
Cách thứ Nhì là dủng Quái số .
Cách thứ ba là dùng Nạp Âm .

Lục thập Tinh hệ của Vương đình Chi chỉ là dùng Tinh phối Tinh , chưa luận đến Cung khí .

QUYENQUY viết:
Bác MaYCung viết bài về Thiên Cơ Sửu/Mùi hay quá ạ! Nhân chủ đề đang xôm tụ, cháu xin hỏi thêm bác một số câu hỏi nhỏ.

- "Thiên Cơ tại Sửu thì Tử vi - Thiên Phủ tại Dần Miếu / Vượng , chứng tỏ là đời ông bà ( hoặc Cha Mẹ vì đây cũng là Phụ mẫu cung ) phải khá giả hoặc có sản nghiệp , đến khi mình ra đời mới bị suy vi ."

Cái này cháu áp dụng vào bản thân thì thấy cũng đúng lắm ạ, ông bà cháu khá giả nhưng về già thì lại sút giảm nhiều do chính sách ruộng đất.

- Về tầm vóc quốc gia mà luận thì Tử vi đang hồi thu tóm quyền hành ,Vua đang ở tuổi Tráng niên ( đã qua 3 Đại hạn ) cho nên có thuyết nói Thiên Phủ chính là Hoàng hậu , dù đất nước vẫn còn trong tình trạng ảm đạm ( Âm Dương Hãm ) nhưng vấn đề Kinh tế rất hứa hẹn và về mặt Quốc phòng thì rẩt vững vàng . Nhà Vua lúc này đang lo tuyển lựa nhân tài ra công giúp nước , Thiên Cơ cư Sửu lại ở vị thế Cận Quý nhưng nếu không có Cát tinh gia tập thì hoặc là kẻ vô Tài, chỉ giỏi biện thuyết hão huyền hoặc không có cơ hội được tiến cử .

- Nhiều người nói rằng:Tử Phủ cư Thân thì đẹp hơn cư Dần vì Âm Dương tại trường hợp Tử Phủ cư dần là hãm địa còn Âm Dương trong trường hợp cư Thân lại là đắc địa. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng thế Tử Phủ cư Dần tượng trưng cho nhà vua đã trưởng thành và lãnh đạo đất nước theo chiều hướng đi lên, còn Tử Vi cư Thân được coi như nhà vua đang ở đỉnh cao của sự nghiệp và đang có chiều hướng đi xuống. Cháu rất mong nhận được ý kiến của bác về vấn đề này ạ!
- Thiên Cơ Sửu/Mùi, nếu trong trường hợp vừa được cát vừa có sát tinh thì sẽ phải nhận định như thế nào ạ bác, có chăng nên căn cứ vào lực lượng đôi bên mà đưa ra kết luận theo câu phú: "Chư tinh cát phùng hung dã cát, chư tinh hung phùng cát dã hung"?
- Thiên Cơ Sửu Mùi tối ái Tả Hữu Xương khúc là những phụ tinh phò tá bậc nhất, nhưng nếu trường hợp không có Xương Khúc thì có thể dùng Quang Quí, không có Tả hữu có thể thay bằng Thai Tọa không ạ.
- Về Cự môn cư Tỵ theo Bác là nơi đắc địa có đúng không ạ!


QQ đã đưa ra những câu hỏi rất ..thông thái , xin trả lời :

Dần là đất Tam Dương khai thái , tam Dương là Quẻ Kiền ,tượng là Vua ( Quẻ kép vẫn là Kiền ) , nếu nói về Tượng Quẻ thì Hợp cách ( cũng tựa như tượng Tử vi cư Ngọ vậy ), cho nên Tử - Phủ Nhị Đế đến Dần cung theo tượng Quẻ thì là Miếu / Vượng .
Nếu nói về THẾ thì Tử vi tại Dần ở vị thế Tráng niên đang tiến đến Tỵ / Ngọ là nơi Hỏa địa cực thịnh cho Tử vi thuộc Thổ .
Nhưng về mặt Ngũ Hành thì Tử - Phủ đi đến Dần cung là Bệnh Thổ , nếu không có Cát tinh phụ bổ thì khó lòng phát huy tác dụng . Mà khi luận Cát Hung Miếu Lạc thì phải dùng Chính ngũ Hành làm cột trụ , Thời Thế và Quái số , Quái Tượng .. chỉ là Phụ ( Tuy vậy cũng có những trường hợp Phụ lấn quyền của Chính , nhưng chỉ là thiểu số ).
Cho nên nếu nói theo sách Tử - Phủ cư Dần là Miếu / Vượng là vì thấy Thế và Tượng đều Tốt , mà người nào nói Tử - Phủ cư Dần là Lạc Hãm thì cũng đúng nốt , vì đó là nhìn theo khía cạnh Ngũ Hành .
Tổng quát mà nói thì Tử - Phủ cư Dần về lực lượng ( sức mạnh ) thì yếu hãm , nhưng về Khí thế thì rất mạnh .
Tử - Phủ tại đây cũng tựa như 1 nhân tài đang ngọa Bệnh , chỉ cần cho uống thuốc bồi bổ ( tức + Cát tinh ) là khôi phục được tinh thần và sức mạnh ,trở thành 1 Cách cục rất đẹp .

Tử - Phủ cư THÂN là Thổ đang thời kỳ tiết khí vì Tinh phải sinh cho Cung , nếu luận về thời Thế và Quái vị thì không bằng tại Dần , nhưng về mặt Ngũ Hành thì Tử - Phủ tại Thân chỉ tiết khí , không bị Cung khắc , nên lực lượng dĩ nhiên mạnh hơn tọa Dần .
Như vậy ta có thể rút ra kết luận :

Tử - Phủ tại Thân có lực lượng mạnh hơn , nhưng về Khí thế thì không bằng tại Dần . Nếu muốn nói bên nào HAY hơn thì rất khó vậy , vì có khi Tinh thần quyết định vật chất mà cũng nhiều khi thấy ngược lại , nhưng có lẽ nên chọn T- P tại THÂN vì đắc thêm Âm - Dương Miếu Vượng .

Trường hợp Thiên Cơ S/ M Hoặc bất kỳ CÁCH CỤC NÀO khác có Cách Cát / Hung hỗn tạp thì có thể luận theo 3 cách :

- Tiền Cát hậu Hung ( sự nghiệp đang lên tốt đẹp , giàu sang phú quý ... thì bị tỏa bại ,phá tán, phải biết rút lui đúng lúc ). Tức thuộc về dạng Phá cách , đây là trường hợp chiếm đa số .

- Cũng có thể luận là Cát Hung tương Bán : sự nghiệp trồi sụt , khi lên voi lúc xuống chó .

- Còn luận là Tiền Hung hậu Kiết thì ít khi xảy ra .

Câu " Chư Tinh Cát phung Hung dã Cát = Trường hợp này ám chỉ 1 nhóm nhiều Cát tinh tụ hội , nếu gặp 1, 2 thằng HUNG TINH thì chẳng sao , chẳng hạn như 1, 2 thằng ăn cướp mà gặp 4, 5 ông Cảnh sát hay FBI vậy ,Hung tinh nếu không chạy thì phải xếp re .

Chư tinh Hung phùng Cát dã Hung = ngược lại 4, 5 thằng ăn cướp mà gặp 1 anh Cảnh sát đi lang thang , nếu không lảng đi chỗ khác thì có khi ăn đạn , đâu phải Cs hay F là ngon .

Thiên Cơ S / M nếu không có Tứ Cát mà phải dùng Thai Tọa / Quang Quý thì Cách cục bị xuống Cấp liền , khó thể thay thế tuy chưa xuống bùn đen , vẫn còn ngo ngoe được , có thể chờ đến hạn nào có Tứ Cát / đa Cát thì có thể bốc lên .

Cự Môn cư TỴ Không phải là Cách đẹp , dù sách có viết là VƯỢNG ĐỊA , cho nên nhiều khi nghe theo sách cũng nguy lắm .

CỰ cư TỴ chỉ đẹp với 2 tuổi TÂN / QUÝ mà thui , các Tuổi khác dù có Cát tinh đa tập cũng phú quý không bền ( đa phần là phát chỉ 1 Đại hạn ) , cho nên sách cũng phán : Thủ Mệnh / Thân tại thử Cung bất Mỹ là vậy .

TUPHASONGHANH viết:
Lão giáo chủ ma đầu ơi sao tử vi cư ngọ ăn đứt cư tý. Tử tướng thìn tuất thế la võng, thiên hạ phân tranh, 2 phe cân bằng lực lượng sao hay bằng tại Tý khi đó bộ tuphuvutuong vẫn trên cơ ạ. Cháu hỏi thế vì sách phê tử tướng đắc vượng mà tý bình hòa.


Tử vi là Âm Thổ , cư Ngọ Hỏa địa là Cung sinh Tinh , cực tốt vã lại Ngọ cung là tượng của Cấm thành , Đế ngự tại đây là Chính vị , tại Tý không thể bì vì Tử vi cư Tý thuộc Quẻ Phục , Nhất Dương sinh = sinh ra 1 thằng con trai / 1 Hoàng tử , Hoàng tử mới sinh ra tuy được đăng cơ làm Vua , chung quanh có đầy đủ PHỦ VŨ TƯỚNG Miếu Vượng nhưng Bản Thân còn ít tuổi ( dưới 15 tuổi )nên chỉ có cái vỏ , chẳng có quyền hành gì cả ,vì ở vị thế Hào 1 nên bên trên còn nhiều người lắm , vả lại tọa Tý thì Ngũ Hành Thủy - Thổ xung khắc , Cung khắc Tinh không thể so với các cung khác được . Tại Tý mà phê Bình Hòa là nhờ Bản thân là Tử vi , nếu là dân dã thì đã bị phê là Hãm địa .

Tại Thìn / Tuất , tuy Vua phải chinh chiến ( coi như để thoát vòng La/ Võng ) nhưng Tử vi tại đây đắc Thổ khí , Thiên Tướng thì tọa Thủy Khố ( Thìn ) mà tại Thìn thì thuộc Quẻ Trạch Thiên Quải , Vua cư tột cùng ở thế ngũ Dương Hào , ở vị thế này Vua chỉ dưới quyền 1 người ( Hoàng Thái Hậu ) mà trên muôn vạn người nên vị thế cư Tý không thể sánh bằng .

Tại Tuất thuộc Quẻ Sơn địa Bác , Vua đã gần đứt hơi rùi , nhưng quyền hành vẫn còn nắm đầy đủ , lại cư Thổ vị nên vẫn oai phong hơn tại Tý .

Nói chung để luận vị thế Miếu Hãm của chư Tinh , người xưa đã kết hợp giữa Ý / Tượng của Hào / Quẻ cùng với Ngũ Hành của mỗi Cung đối chiếu với Tinh để luận ra kết quả , nếu không nắm được phương pháp Luận của Họ thì xem như ...không thể giải thích .
Để đi sâu vào lãnh vực Tử vi thì chắc hẵn phải biết rõ về Dịch và Dịch số , những phần Miếu Hãm chỉ là ..ngoài da mà thôi , chưa có là gì cả , nhưng phần ngoài da này cũng lắm cái khá hay .

"Lão giải thích nốt hộ cháu tại sao phá quân tại cung thân hành kim ( đất tràng sinh của hành thủy ) lại bị cổ nhân phê hãm lòi mà phá quân cư ngọ là miếu vượng ạ. "

Ông hỏi mấy câu hắc ám như vậy mấy Sư phụ làm sao trả lời cho đặng ? , vì thông thường người ta chỉ học Ngũ Hành kỳ trận mà không học Phản Ngũ Hành . Nhưng chiêu Phá Quân này vẫn còn dùng Chính ngũ Hành giải thích được .
Phá quân thuộc Âm Thủy tức là Quý Thủy , Dương Thủy Trường sinh tại Thân và Tử tại Mão , do đó Âm Thủy có Trường sinh tại Mão , Mão Trường sinh thì đến Thân cung là chổ Tử của Âm Thủy ,nên gọi là Hãm . Nhưng vì cung Thân có Canh kim sinh được cho Thủy nên trường hợp này gọi là Tử lý phùng Sinh ( Trong chỗ Tử lại có được Sinh cơ ) . Như vậy đúng ra phải gọi là Bình chứ không thể nhận định là Hãm được . Trong quyển Tú Thiên Phái TVDS thấy đề là NHÀN ( Bình ) , trong Hà lạc Dã phu thấy cũng đề là Bình . Các sách nào đề Hãm có lẽ người ta không thấy Cách Tử lý đào sinh ??

Tại NGỌ :
Phá quân tuy thuộc Thủy , nhưng có đặc tính là thích kết hợp với Âm Hỏa , Âm Hỏa tựa như lò than ( lô trung chi Hỏa ) có tác dụng hung đúc nồi thuốc Phá quân trong phương diện luyện thuốc của Nho gia . Vì Ngọ là đất của Đinh Hỏa nên tại đây tuy Ngũ Hành xung khắc nhưng vẫn sản sinh được tác dụng tốt đẹp cho Phá quân , đây gọi là đắc Thế . Vã lại tượng Quẻ ở đây là Thủy Hỏa ký tế , nước và lửa có thế lực bình hòa , cả 2 đều có thể nương nhau phát huy nên 1 cách cục Tốt đẹp ( Anh Tinh nhập Miếu cách ) , vì Thế và Tượng đều đắc cách nên Phá Quân tại đây được gọi là Miếu Vượng .


[Có phải là...]
Tất cả...
-Những thứ mong manh......đều dễ vỡ?????
-Những thứ hời hợt......đều dễ quên?????
-Những thứ xa vời......đều dễ mất???
-Những thứ chân thật......đều dễ bị tổn thương???
Và...
-Những gì giả dối...
...luôn chiến thắng???
Tự kỉ
Tạm Biệt

Trả lời


Messages In This Thread
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:00 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:00 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:01 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi Lạc Xa - 03-07-2012, 01:02 PM
Các thế cờ trong tử vi [ST] - bởi anh309 - 04-07-2012, 09:45 AM

Các chủ đề có liên quan...
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới gửi
  [Sưu tầm] Các trục trong tử vi vào sao Âm Sát redsquare2004 3 218 13-07-2012, 10:38 AM
Bài mới gửi: Tiểu Vô Thường
  Vợ chồng trong Tử Vi Tầm Sư Học Đạo 14 858 26-05-2012, 10:58 AM
Bài mới gửi: hanh_tay_mot_nua
  Một số ứng dụng của Tử Vi trong cuộc sống ! Khoai 10 481 24-05-2012, 11:10 PM
Bài mới gửi: giakhoa
  Bửu Đình . Một Số Câu Phú Trong Tủ Vi Bị Giải Thích Sai Người Lái Đò 3 293 21-05-2012, 12:49 PM
Bài mới gửi: Người Lái Đò
  Các cách xác định giờ sinh trong Tử vi Người Lái Đò 6 534 16-05-2012, 12:39 AM
Bài mới gửi: Fengshui
  Bài viết trong lớp học Tử Vi - Cùng bàn luận và góp ý Khoai 24 1,439 20-03-2012, 02:44 AM
Bài mới gửi: Khoai
  LỘC TỒN ý nghĩ trong PHÚC LỘC THỌ baochinh 1 302 14-03-2012, 05:39 PM
Bài mới gửi: narutohmu88
  Bàn về các chính tinh trong tử vi Cú đấm thép 3 384 26-02-2012, 04:22 PM
Bài mới gửi: Gia Lương
  Phép Lưu Cung trong đoán Hạn (Vui Vui tiên sinh) huuduyen 0 131 19-02-2012, 10:40 PM
Bài mới gửi: huuduyen

Chuyển đến diễn đàn:


Những người đang xem chủ đề này: 1 khách