25-06-2012, 08:15 AM
36. Khí ngứa họng, hãy gãi tai
Khi ngứa trong cổ họng, việc gãi tai sẽ làm giảm sự khó chịu. Khi các dây thần kinh ở tai bị kích thích, nó tạo ra một phản xạ ở cổ họng, có thể gây co thắt các cơ, giúp làm dịu sự ngứa ngáy ở cổ
47. Lại cây đu đủ
+Hoa đu đủ: trị ho trẻ em. Hoa đu đủ đực tươi (10 - 20g) trộn đường, đường phèn, mật ong, hấp cách thủy (hoặc hấp cơm).
- Rễ đu đủ: chữa băng huyết, sỏi thận, rắn cắn.
- Quả
- Nhựa (từ quả, lá, rễ, hoa).
Tác dụng dược lý
Kháng khuẩn (rễ, vỏ, hạt).
- Diệt giun: trị giun đũa và giun kim (hạt).
- Chống sinh sản (cao hạt đu đủ), giảm tinh trùng, không độc và không ảnh hưởng đến tình dục.
- Chống ung thư (cao chiết với cồn ở lá đu đủ), giảm thể tích u báng, giảm sự tăng sinh khối u và mật độ tế bào ung thư.
Tính vị, công năng
- Quả đu đủ có vị ngọt, mùi hơi hắc, có tính mát.
- Có tác dụng làm mát gan, nhuận tràng, tiêu đờm, giải độc, tiêu thũng
Công dụng quả đu đủ Việt Nam
- Quả đu đủ chín: Bổ dưỡng, giúp tiêu hóa, nhuận tràng. Trẻ em ăn đu đủ chín sau khi ăn cơm chiều, từ 7 - 10 ngày trở lên, thấy sổ ra nhiều lãi kim.
. 42. Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây hành ta:
- Hành giã nát ngâm trong nước sôi, xông hoặc nhỏ mũi chữa ngạt mũi cấp tính và mãn tính, viêm niêm mạc mũi.
- Cảm cúm, nhức đầu: Lấy hành ta 6 - 8 củ, gừng sống 10g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước sôi, xông miệng mũi mỗi ngày 2 - 3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để uống (1 ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ).
- Động thai: Hành ta tươi 60g, sắc uống dần đến khi yên thai thì thôi.
- Tăng huyết áp: Hành tây 2 - 3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường xuyên. Uống 4 - 5 lần, huyết áp sẽ hạ.
- Tắc ruột do giun đũa: Lá hành tươi 30g giã nát, trộn với 30g dầu vừng (dầu mè). Uống ngày 2 - 3 lần.
- Nghiền nát hành sống đắp lên trên trán có thể làm giảm đau đầu.
- Các củ hành nhỏ có thể được sử dụng như thuốc long đờm. Nghiền nát rồi trộn với đường phèn, để một lúc cho nước chảy ra. Dùng khoảng 3-4 thìa cà phê nước ép này để làm dịu đi chứng ho và đau họng.
43. Thuốc từ hoa dâm bụt
Chữa kiết lỵ: Bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá. Hái 10 hoa dâm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa nhỏ (thìa cà phê) đường, đem hấp cơm. Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn. Bài thuốc này không độc, trẻ em rất thích ăn, áp dụng cho cả người lớn và trẻ em.
Chữa chứng nhức đầu chóng mặt ở phụ nữ: Lấy một nắm hoa dâm bụt (khoảng 50g) và 40-50g gỗ vang, 3 lát gừng tươi, tất cả đem sắc uống (Nam dược thần hiệu).
Chữa di mộng tinh: Lấy hoa và lá dâm bụt, lá bấn hoa trắng (còn gọi là bạch đồng nữ), thài lài tía, mã đề; mỗi thứ một nắm bằng nhau (chừng 50g) đem sắc uống. Với phụ nữ ra khí hư bạch đới như máu cá, hoặc đái buốt, đái rắt cũng dùng bài thuốc này để chữa trị.
Ngoài hoa, lá, thì vỏ và rễ của cây dâm bụt cũng được dùng làm thuốc - rễ tiêu viêm tiết niệu, điều hòa kinh nguyệt...
Cũng nên biết thêm: Cần phân biệt dâm bụt ta, với cây dâm bụt Tây (có nguồn gốc từ Nam Mỹ) còn gọi dâm bụt dấm, hoa có màu đỏ tía, cấu trúc hoa có khác khi nhìn gần. Loại cây này mới được du nhập vào trồng ở nước ta, những năm gần đây, cũng có nhiều lợi ích tốt; nhưng không thuộc vào các trị liệu nói trên.
44. Cọ rửa đồ dùng thủy tinh không đơn giản nếu như bạn muốn giữ cho chúng vừa bền, vừa sạch sẽ lại luôn luôn sáng như mới. Có thể áp dụng những cách lau rửa sau đây.
- Dụng cụ thủy tinh đắt tiền, có thể dùng bàn chải đánh răng và kem đánh răng cọ rửa, sau đó dùng nước lạnh rửa lại.
- Dụng cụ thủy tinh đựng rượu, có thể dùng giấy cũ xoa thấm rượu đi, sau đó dùng nước lã rửa.
- Gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh có khi rất khó rửa, có thể dùng vải ướt tẩm muối để lau, sau đó dùng nước sạch rửa.
- Dụng cụ thủy tinh đựng sữa không thể dùng nước nóng rửa, nếu không cặn sữa dính trên thành sẽ kết thành một lớp chất dính, rất khó rửa. Muốn rửa loại dụng cụ này, trước hết phải dùng nước lã, sau đó mới dùng nước nóng.
- Bóng đèn trong nhà bếp bị khói dầu hun đen rất khó lau rửa. Có thể dùng vải tẩm một ít dấm hơi nóng để lau rửa hoặc trước khi lau xoa một ít nước vôi, để khô dùng vải lau. Lau xong cũng để khô mới sử dụng.
45. Khi hấp cơm nguội, tốt nhất không nên đổ lẫn cơm mới và cơm cũ mà nên hấp chúng riêng. Để hấp cơm cũ, hãy pha vào nước sôi một chút muối và nước, nhiều hay ít tùy thuộc vào lượng cơm. Như vậy cơm hấp sẽ ngon và dẻo như cơm chín.
Dao dùng lâu ngày không được sắc, dù dao có bị cùn cũng không nên liếc trên thành xi măng, bởi làm vậy dao sẽ nóng lên dễ bị mẻ và rỉ. Trước khi mài, nên ngâm dao trong nước muối 20 phút, sau đó mài bằng đá mịn. Để tránh dao bị rỉ, khi dùng xong, hãy bôi lên mặt dao một lớp dầu ăn hoặc ngâm vào nước vo gạo.
46. Cây đu đủ:
+ Đu đủ non, bổ đôi, hơ lửa cho nóng, chườm chỗ sưng đau. Hầm chân giò heo lợi sữa.
+ Đu đủ xanh già: nấu nhuyễn, ăn trước 2 bữa ăn chính. Hoặc tán xay thành bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 - 2 muỗng cà phê, chữa đầy bụng khó tiêu.
+ Lá tươi giã nát, gói vào miếng gạc, đắp thái dương, chữa đau đầu.
+ Nước sắc đặc lá đu đủ có tính sát trùng, rửa vết thương, tẩy vết máu trên vải.
+ Lá đu đủ bọc thịt dai, cứng trong vài giờ, khi hâm thịt chóng nhừ.
+ Dân gian sắc 2 - 7 lá đu đủ tươi loại bánh tẻ với nước, uống chữa ung thư.
+ Nhựa mủ lá đu đủ bôi chữa chai chân, hột cơm, tàn nhang, hắc lào mới phát, eczema, vẩy nến.
47. Lại cây đu đủ
+Hoa đu đủ: trị ho trẻ em. Hoa đu đủ đực tươi (10 - 20g) trộn đường, đường phèn, mật ong, hấp cách thủy (hoặc hấp cơm).
- Rễ đu đủ: chữa băng huyết, sỏi thận, rắn cắn.
- Quả
- Nhựa (từ quả, lá, rễ, hoa).
Tác dụng dược lý
Kháng khuẩn (rễ, vỏ, hạt).
- Diệt giun: trị giun đũa và giun kim (hạt).
- Chống sinh sản (cao hạt đu đủ), giảm tinh trùng, không độc và không ảnh hưởng đến tình dục.
- Chống ung thư (cao chiết với cồn ở lá đu đủ), giảm thể tích u báng, giảm sự tăng sinh khối u và mật độ tế bào ung thư.
Tính vị, công năng
- Quả đu đủ có vị ngọt, mùi hơi hắc, có tính mát.
- Có tác dụng làm mát gan, nhuận tràng, tiêu đờm, giải độc, tiêu thũng
Công dụng quả đu đủ Việt Nam
- Quả đu đủ chín: Bổ dưỡng, giúp tiêu hóa, nhuận tràng. Trẻ em ăn đu đủ chín sau khi ăn cơm chiều, từ 7 - 10 ngày trở lên, thấy sổ ra nhiều lãi kim.
48. Mẹo nhà bếp
+Một số loại khoai sọ, khoai môn có thể làm người gọt khoai bị ngứa tay, khiến ta rất khó chịu. Muốn hết ngứa, hãy hơ tay lên bếp lửa, hoặc rửa tay trong dung dịch nước ấm pha chút giấm chua.
Nếu bạn muốn bóc vỏ khoai sọ nhanh
cho tất cả khoai sọ vào nồi luộc sôi chừng độ 5 phút, sau đó đổ vào chậu nước lạnh bạn chỉ cần sát mạnh là tróc hết vỏ khoai sọ ra ngay
+Hành tây héo sẽ rất khó bóc vỏ. Bạn hãy nhúng hành ngập vào trong nước sôi 1-2 phút rồi nhúng qua nước lạnh, sau đó cắt rễ và bạn sẽ dễ dàng bóc vỏ những củ hành tây héo này.
49. Tránh khoai tây mọc mầm và luộc trứng
+Bạn không nên để khoai tây chung với táo tàu, nếu không khoai tây sẽ mọc mầm và rất độc hại.
+Luộc trứng bị nứt
Bạn hoàn toàn có thể luộc trứng khi trứng đã bị nứt mà không sợ trứng chảy ra ngoài. Bạn hãy gói trứng trong tờ giấy bạc và đem luộc bình thường.
50. Khi chiên xào có các gia vị như dầu ăn, hành, tỏi..., nên cho tỏi vào sau cùng để tránh cho tỏi bị cháy - nguyên nhân khiến cho món ăn có vị đắng.
1. Chọn và sử dụng tỏi
Tìm mua những củ tỏi rắn chắc, tránh những củ mềm hay có những nốt nâu trên vỏ. Tỏi nảy mầm là do để quá cũ, không nên dùng. Củ tỏi to chưa chắc đã ngon hơn củ nhỏ. Thông thường, những củ tỏi nhỏ trong nhánh bé và có vỏ màu tím sẽ thơm hơn tỏi to, trắng...
2. Bảo quản rau húng quế:
Húng quế mua về thường bị héo rất nhanh, song chúng sẽ tươi trở lại nếu ngâm vào nước khoảng 30 phút. Sau khi ngâm, hái bỏ lá già, héo, cất ở nhiệt độ mát trong túi giấy kín miệng. Nên nhớ rau húng cất tủ lạnh sẽ chóng bị thâm đen.
51. Lại mẹo nhà bếp
1. Để thịt bò, lợn, vịt có hương vị lạ và ngon
Trộn thịt bò với húng quế, húng tây, lá bạc hà hoặc cây xô thơm, như vậy thịt sẽ có hương thơm tự nhiên và rất đặc biệt. Thịt lợn sẽ ngon hơn khi trộn với một hoặc vài gia vị như hồi, húng quế, lá thì là, rau mùi, nước chanh... Thịt vịt sẽ rất hấp dẫn khi ướp cùng lá bạc hà, lá hương thảo.
2. Chọn thảo mộc khô
Khi chọn thảo mộc khô để chế biến món ăn, nên tìm loại có màu sắc tốt, tránh loại có màu nhợt nhạt. Tốt nhất chọn loại còn nguyên lá và cuống thay vì loại bị vò nát. Các thảo mộc khô chỉ nên sử dụng trong vòng 1 năm.
52. Sao lắm mẹo nhà bếp thế
1. Giữ rau thơm ăn dần:
Cách thông dụng là phơi khô. Để cho các loại rau này vẫn giữ được màu nguyên thuỷ sau khi phơi, hay cho vào lò vi sóng, sấy ở mức nhỏ nhất. Đảm bảo với cách này, lá cây vẫn giữ được màu xanh.
2. Dùng gia vị cay
Khi nấu những món cay, hãy rang các gia vị cay (ớt khô, tiêu...) trên chảo khô ở nhiệt độ cao trong vòng vài phút trước khi nghiền nhỏ. Cách này sẽ cho hương vị thơm ngon. Không nên trữ gia vị cay quá lâu mà không sử dụng vì sẽ làm mất đi nhiều hương vị. Nên bảo quản trong vòng 6 tháng.
53. Linh dược từ ngải cứu
Ngải cứu là một loại rau dân dã được trồng ở khắp nước ta và các nước Âu, Á. Do ngải cứu rất giàu dược tính nên nó chữa được nhiều bệnh nhất là các bệnh của phụ nữ.
Canh từ ngải cứu
Canh suông lá ngải cứu tươi non: Chữa đau tức ngực, ho do khí trời lạnh giá.
Canh bổ dưỡng cho phụ nữ sau sinh 15 -20 ngày: Lá ngải cứu tươi 100g rửa sạch. Gà giò 1 con đủ 1 bữa. Chọn được gà ác càng tốt. (lông trắng da thịt đen) mổ moi bỏ lòng, nhồi ngải cứu vào bụng gà, hấp cách thuỷ. Cách ngày 1 con, cả liệu trình 7- 9 con.
Canh trứng gà ngải cứu, chữa đau bụng kinh do lạnh: Lá ngải cứu 30g, trứng gà 2 quả. Nấu chín trứng với ngải cứu. Láy trứng ra bóc vỏ, rồi bỏ lại vào, nấu lại với ngải cứu 10 phút. Ăn trứng hàng ngày trong 7 ngày. Nếu thêm ít hồi hương có tác dụng sẽ mạnh.
Công thức này cũng được chỉ định bồi bổ sức khoẻ cho trường hợp ung thư tử cung (cổ và thân).
Canh trứng gà Ngải cứu, gừng, chữa bế kinh, chậm kinh, thống kinh: Lá ngải cứu 9g, trứng 2 quả, gừng 15g. Nấu như bài trên. Dùng 7 ngày trước khi có kinh.
Canh ngải cứu chữa sẩy thai liên tiếp: lá ngải cứu lâu năm 6g. Trứng gà 2 quả. Vò nát lá ngải cứu cho vào túi nấu lấy nước bỏ túi bã, lấy nước đạp trứng vào đánh đều nấu chín. Ăn cả cái và nước. Liên tục 3 lần. Hoặc lá ngải cứu 40g, trứng gà 1 quả nấu chung cho đến khi trứng chín. Ăn trứng, uống nước. Ngày 1 thang, liên tục 7 ngày. Về sau cứ 1 tháng ăn 1 lần, mỗi lần 2 quả, liên tục cho đến khi sinh.
Cháo ngải cứu
Chữa động thai: lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ. Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 - 5 ngày.
Cháo ngải cứu chữa thấp khớp: lá ngải cứu 100g, lá lốt 200g, gạo xay 200g, rửa sạch hai loại lá xay lấy nước 300ml hoà vào gạo. Đun lửa nhỏ, quay đều không để vón. Ăn nóng lúc đói. Bã lá xào dấm nóng, đắp chườm chỗ sưng đau.
Cháo ngải hoa cúc: lá ngải cứu 100g, hoa cúc 50g, gạo tẻ 200g. Cách làm như trên.
Chào ngải cứu bìm bịp chữa đau liên sườn, đau khớp: lá ngải cứu 50g, bìm bịp 1 con, gạo nếp 200g. Gia vị vừa đủ. Bìm bịp bóp chết, bọc đất bên ngoài dùng củi đốt cho đến khi đất đỏ. Bóc đất, gỡ thịt ướp gia vị, còn (xương, đầu, cánh, chân...) thì giã nát lọc lấy 40ml nước. Nấu chào nhừ rồi cho thịt, nước xương chim, lá ngải cứu đã thái chỉ vào cháo quấy đều. Cháo sôi lại là được. Ăn nóng ngày 1 lần, liền 3 ngày (kinh nghiệm cho thấy hiệu quả cao).
Làm thức uống
Trà: Các tiệm trà ở Nhật Bản bán lá ngải cứu khô để hãm uống bồi bổ sức khoẻ (dùng cho cả sản phụ cho con bú). Để điều kinh cũng dùng cách này uống 6g – 12g chia 3 lần/ngày.
Sách Tây y hướng dẫn dùng lá ngải cứu chống mỡ máu, xơ cứng thành mạch, hạ huyết áp cao. Lá ngải cứu hái trước 10 giờ sáng rửa sạch cho vào máy xay sinh tố, dùng cốc sứ để uống. Nếu khó uống cho thêm một chút mật ong. Có thể hái sẵn cho vào túi nylon để trong tủ lạnh.
Ngày khoảng 100g ngải cứu chia 3 lần uống trước bữa ăn chính.
Nước uống: Cho người động thai đau bụng 4 -8g lá tươi giã vắt lấy nước cốt hoà vào chén mật ong đun sôi uống.
Nước ngải cứu tươi: Chữa đau bụng kinh – 1 nắm lá ngải cứu tươi vắt lấy nước uống.
Nước sắc ngải cứu: chữa kinh nguyệt kéo dài, ra nhiều máu, mệt mỏi suy nhược. Lá ngải cứu khô 10g thêm 200ml sắc còn 100ml uống 1 lần, cho ít đường cho dễ uống.
Nước uống cho người cao huyết áp: ngải cứu khô 10g. Nấu trong đồ sứ (không dùng kim loại). Nấu ngày nào uống ngày đó (không để qua đêm).
Nước sắc ngải cứu chữa chứng thương hàn (của Đông y) thời khí ôn dịch gây sốt cao, đầu nhức, mạch hồng thực. Dùng lá ngải cứu khô 3 lạng (120g), uống nóng cho ra được mồ hôi là khỏi (trửu hậu phương). Khi sắc thuốc ngải cứu có sách dặn “không để ngoài gió”...
Rượu ngải diệp (Thánh tể tổng lục) để ôn kinh, chỉ thống, lá ngải cứu khô 30g, men rượu vừa dùng. Nấu ngải cứu lấy nước đặc cho vào 2kg cơm nếp và men rượu gầy. Sau khi ngâm xong, lọc bỏ bã, cất vào chai. Ngày uống vài lần.
Thuốc ngải cứu
Uống trong: Đã được một số công ty bào chế thành thuocó chữa điều kinh có công thức: ích mẫu, hương phụ, ngải cứu với hàm lượng khác nhau, ở các dạng hoàn, cao lỏng, cao đặc, viên nang.
Sách Đông y có nhiều cổ phương có ngải cứu, chủ yếu để chữa bệnh phụ nữ do rối loạn kinh nguyệt (sớm, muộn, bế kinh, thống kinh...) về thai sản (động thai, sẩy thai) bồi dưỡng sau sinh... thiên về thể hàn, khí trệ.
Dùng ngoài: ngã tức ngực ngất xỉu. Lấy ngay ngải cứu tươi giã nhuyễn lấy nước hoà cùng một lít rượu để uống, bã xoa đắp ngoài.
Trẻ em bị sốt cao cũng làm như trên nhưng chỉ để xoa khắp mình, trừ đầu mặt không xoa, không uống.
Đau lưng lấy lá ngải cứu xào dấm đặt lên giường, lót lá chuối hoặc nilon nằm ngửa đặt lưng lên ngải cứu. Hoặc nằm sấp, đắp chườm ngải cứu lên vùng thắt lưng.
Trị mụn ở mặt: Dùng lá non làm mặt nạ 20 phút sau đó rửa sạch. Dùng toàn thân thì sắc lấy nước cho vào bồn tắm, chữa rôm sảy, mẩn ngứa, mỏi mệt.
Đau họng: giã ngải cứu lấy nước cốt uống từ từ, ít một, bã với ít dấm đắp bên ngoài cổ, phía trước.
Cấm kỵ
Không nên dùng dài ngày. Người nhiệt âm hư không dùng, người cao huyết áp do âm hư hoả vượng, không có hàn thấp, thai sản bình thường không dùng.
Khi ngứa trong cổ họng, việc gãi tai sẽ làm giảm sự khó chịu. Khi các dây thần kinh ở tai bị kích thích, nó tạo ra một phản xạ ở cổ họng, có thể gây co thắt các cơ, giúp làm dịu sự ngứa ngáy ở cổ
47. Lại cây đu đủ
+Hoa đu đủ: trị ho trẻ em. Hoa đu đủ đực tươi (10 - 20g) trộn đường, đường phèn, mật ong, hấp cách thủy (hoặc hấp cơm).
- Rễ đu đủ: chữa băng huyết, sỏi thận, rắn cắn.
- Quả
- Nhựa (từ quả, lá, rễ, hoa).
Tác dụng dược lý
Kháng khuẩn (rễ, vỏ, hạt).
- Diệt giun: trị giun đũa và giun kim (hạt).
- Chống sinh sản (cao hạt đu đủ), giảm tinh trùng, không độc và không ảnh hưởng đến tình dục.
- Chống ung thư (cao chiết với cồn ở lá đu đủ), giảm thể tích u báng, giảm sự tăng sinh khối u và mật độ tế bào ung thư.
Tính vị, công năng
- Quả đu đủ có vị ngọt, mùi hơi hắc, có tính mát.
- Có tác dụng làm mát gan, nhuận tràng, tiêu đờm, giải độc, tiêu thũng
Công dụng quả đu đủ Việt Nam
- Quả đu đủ chín: Bổ dưỡng, giúp tiêu hóa, nhuận tràng. Trẻ em ăn đu đủ chín sau khi ăn cơm chiều, từ 7 - 10 ngày trở lên, thấy sổ ra nhiều lãi kim.
. 42. Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây hành ta:
- Hành giã nát ngâm trong nước sôi, xông hoặc nhỏ mũi chữa ngạt mũi cấp tính và mãn tính, viêm niêm mạc mũi.
- Cảm cúm, nhức đầu: Lấy hành ta 6 - 8 củ, gừng sống 10g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước sôi, xông miệng mũi mỗi ngày 2 - 3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để uống (1 ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ).
- Động thai: Hành ta tươi 60g, sắc uống dần đến khi yên thai thì thôi.
- Tăng huyết áp: Hành tây 2 - 3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường xuyên. Uống 4 - 5 lần, huyết áp sẽ hạ.
- Tắc ruột do giun đũa: Lá hành tươi 30g giã nát, trộn với 30g dầu vừng (dầu mè). Uống ngày 2 - 3 lần.
- Nghiền nát hành sống đắp lên trên trán có thể làm giảm đau đầu.
- Các củ hành nhỏ có thể được sử dụng như thuốc long đờm. Nghiền nát rồi trộn với đường phèn, để một lúc cho nước chảy ra. Dùng khoảng 3-4 thìa cà phê nước ép này để làm dịu đi chứng ho và đau họng.
43. Thuốc từ hoa dâm bụt
Chữa kiết lỵ: Bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá. Hái 10 hoa dâm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa nhỏ (thìa cà phê) đường, đem hấp cơm. Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn. Bài thuốc này không độc, trẻ em rất thích ăn, áp dụng cho cả người lớn và trẻ em.
Chữa chứng nhức đầu chóng mặt ở phụ nữ: Lấy một nắm hoa dâm bụt (khoảng 50g) và 40-50g gỗ vang, 3 lát gừng tươi, tất cả đem sắc uống (Nam dược thần hiệu).
Chữa di mộng tinh: Lấy hoa và lá dâm bụt, lá bấn hoa trắng (còn gọi là bạch đồng nữ), thài lài tía, mã đề; mỗi thứ một nắm bằng nhau (chừng 50g) đem sắc uống. Với phụ nữ ra khí hư bạch đới như máu cá, hoặc đái buốt, đái rắt cũng dùng bài thuốc này để chữa trị.
Ngoài hoa, lá, thì vỏ và rễ của cây dâm bụt cũng được dùng làm thuốc - rễ tiêu viêm tiết niệu, điều hòa kinh nguyệt...
Cũng nên biết thêm: Cần phân biệt dâm bụt ta, với cây dâm bụt Tây (có nguồn gốc từ Nam Mỹ) còn gọi dâm bụt dấm, hoa có màu đỏ tía, cấu trúc hoa có khác khi nhìn gần. Loại cây này mới được du nhập vào trồng ở nước ta, những năm gần đây, cũng có nhiều lợi ích tốt; nhưng không thuộc vào các trị liệu nói trên.
44. Cọ rửa đồ dùng thủy tinh không đơn giản nếu như bạn muốn giữ cho chúng vừa bền, vừa sạch sẽ lại luôn luôn sáng như mới. Có thể áp dụng những cách lau rửa sau đây.
- Dụng cụ thủy tinh đắt tiền, có thể dùng bàn chải đánh răng và kem đánh răng cọ rửa, sau đó dùng nước lạnh rửa lại.
- Dụng cụ thủy tinh đựng rượu, có thể dùng giấy cũ xoa thấm rượu đi, sau đó dùng nước lã rửa.
- Gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh có khi rất khó rửa, có thể dùng vải ướt tẩm muối để lau, sau đó dùng nước sạch rửa.
- Dụng cụ thủy tinh đựng sữa không thể dùng nước nóng rửa, nếu không cặn sữa dính trên thành sẽ kết thành một lớp chất dính, rất khó rửa. Muốn rửa loại dụng cụ này, trước hết phải dùng nước lã, sau đó mới dùng nước nóng.
- Bóng đèn trong nhà bếp bị khói dầu hun đen rất khó lau rửa. Có thể dùng vải tẩm một ít dấm hơi nóng để lau rửa hoặc trước khi lau xoa một ít nước vôi, để khô dùng vải lau. Lau xong cũng để khô mới sử dụng.
45. Khi hấp cơm nguội, tốt nhất không nên đổ lẫn cơm mới và cơm cũ mà nên hấp chúng riêng. Để hấp cơm cũ, hãy pha vào nước sôi một chút muối và nước, nhiều hay ít tùy thuộc vào lượng cơm. Như vậy cơm hấp sẽ ngon và dẻo như cơm chín.
Dao dùng lâu ngày không được sắc, dù dao có bị cùn cũng không nên liếc trên thành xi măng, bởi làm vậy dao sẽ nóng lên dễ bị mẻ và rỉ. Trước khi mài, nên ngâm dao trong nước muối 20 phút, sau đó mài bằng đá mịn. Để tránh dao bị rỉ, khi dùng xong, hãy bôi lên mặt dao một lớp dầu ăn hoặc ngâm vào nước vo gạo.
46. Cây đu đủ:
+ Đu đủ non, bổ đôi, hơ lửa cho nóng, chườm chỗ sưng đau. Hầm chân giò heo lợi sữa.
+ Đu đủ xanh già: nấu nhuyễn, ăn trước 2 bữa ăn chính. Hoặc tán xay thành bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 - 2 muỗng cà phê, chữa đầy bụng khó tiêu.
+ Lá tươi giã nát, gói vào miếng gạc, đắp thái dương, chữa đau đầu.
+ Nước sắc đặc lá đu đủ có tính sát trùng, rửa vết thương, tẩy vết máu trên vải.
+ Lá đu đủ bọc thịt dai, cứng trong vài giờ, khi hâm thịt chóng nhừ.
+ Dân gian sắc 2 - 7 lá đu đủ tươi loại bánh tẻ với nước, uống chữa ung thư.
+ Nhựa mủ lá đu đủ bôi chữa chai chân, hột cơm, tàn nhang, hắc lào mới phát, eczema, vẩy nến.
47. Lại cây đu đủ
+Hoa đu đủ: trị ho trẻ em. Hoa đu đủ đực tươi (10 - 20g) trộn đường, đường phèn, mật ong, hấp cách thủy (hoặc hấp cơm).
- Rễ đu đủ: chữa băng huyết, sỏi thận, rắn cắn.
- Quả
- Nhựa (từ quả, lá, rễ, hoa).
Tác dụng dược lý
Kháng khuẩn (rễ, vỏ, hạt).
- Diệt giun: trị giun đũa và giun kim (hạt).
- Chống sinh sản (cao hạt đu đủ), giảm tinh trùng, không độc và không ảnh hưởng đến tình dục.
- Chống ung thư (cao chiết với cồn ở lá đu đủ), giảm thể tích u báng, giảm sự tăng sinh khối u và mật độ tế bào ung thư.
Tính vị, công năng
- Quả đu đủ có vị ngọt, mùi hơi hắc, có tính mát.
- Có tác dụng làm mát gan, nhuận tràng, tiêu đờm, giải độc, tiêu thũng
Công dụng quả đu đủ Việt Nam
- Quả đu đủ chín: Bổ dưỡng, giúp tiêu hóa, nhuận tràng. Trẻ em ăn đu đủ chín sau khi ăn cơm chiều, từ 7 - 10 ngày trở lên, thấy sổ ra nhiều lãi kim.
48. Mẹo nhà bếp
+Một số loại khoai sọ, khoai môn có thể làm người gọt khoai bị ngứa tay, khiến ta rất khó chịu. Muốn hết ngứa, hãy hơ tay lên bếp lửa, hoặc rửa tay trong dung dịch nước ấm pha chút giấm chua.
Nếu bạn muốn bóc vỏ khoai sọ nhanh
cho tất cả khoai sọ vào nồi luộc sôi chừng độ 5 phút, sau đó đổ vào chậu nước lạnh bạn chỉ cần sát mạnh là tróc hết vỏ khoai sọ ra ngay
+Hành tây héo sẽ rất khó bóc vỏ. Bạn hãy nhúng hành ngập vào trong nước sôi 1-2 phút rồi nhúng qua nước lạnh, sau đó cắt rễ và bạn sẽ dễ dàng bóc vỏ những củ hành tây héo này.
49. Tránh khoai tây mọc mầm và luộc trứng
+Bạn không nên để khoai tây chung với táo tàu, nếu không khoai tây sẽ mọc mầm và rất độc hại.
+Luộc trứng bị nứt
Bạn hoàn toàn có thể luộc trứng khi trứng đã bị nứt mà không sợ trứng chảy ra ngoài. Bạn hãy gói trứng trong tờ giấy bạc và đem luộc bình thường.
50. Khi chiên xào có các gia vị như dầu ăn, hành, tỏi..., nên cho tỏi vào sau cùng để tránh cho tỏi bị cháy - nguyên nhân khiến cho món ăn có vị đắng.
1. Chọn và sử dụng tỏi
Tìm mua những củ tỏi rắn chắc, tránh những củ mềm hay có những nốt nâu trên vỏ. Tỏi nảy mầm là do để quá cũ, không nên dùng. Củ tỏi to chưa chắc đã ngon hơn củ nhỏ. Thông thường, những củ tỏi nhỏ trong nhánh bé và có vỏ màu tím sẽ thơm hơn tỏi to, trắng...
2. Bảo quản rau húng quế:
Húng quế mua về thường bị héo rất nhanh, song chúng sẽ tươi trở lại nếu ngâm vào nước khoảng 30 phút. Sau khi ngâm, hái bỏ lá già, héo, cất ở nhiệt độ mát trong túi giấy kín miệng. Nên nhớ rau húng cất tủ lạnh sẽ chóng bị thâm đen.
51. Lại mẹo nhà bếp
1. Để thịt bò, lợn, vịt có hương vị lạ và ngon
Trộn thịt bò với húng quế, húng tây, lá bạc hà hoặc cây xô thơm, như vậy thịt sẽ có hương thơm tự nhiên và rất đặc biệt. Thịt lợn sẽ ngon hơn khi trộn với một hoặc vài gia vị như hồi, húng quế, lá thì là, rau mùi, nước chanh... Thịt vịt sẽ rất hấp dẫn khi ướp cùng lá bạc hà, lá hương thảo.
2. Chọn thảo mộc khô
Khi chọn thảo mộc khô để chế biến món ăn, nên tìm loại có màu sắc tốt, tránh loại có màu nhợt nhạt. Tốt nhất chọn loại còn nguyên lá và cuống thay vì loại bị vò nát. Các thảo mộc khô chỉ nên sử dụng trong vòng 1 năm.
52. Sao lắm mẹo nhà bếp thế
1. Giữ rau thơm ăn dần:
Cách thông dụng là phơi khô. Để cho các loại rau này vẫn giữ được màu nguyên thuỷ sau khi phơi, hay cho vào lò vi sóng, sấy ở mức nhỏ nhất. Đảm bảo với cách này, lá cây vẫn giữ được màu xanh.
2. Dùng gia vị cay
Khi nấu những món cay, hãy rang các gia vị cay (ớt khô, tiêu...) trên chảo khô ở nhiệt độ cao trong vòng vài phút trước khi nghiền nhỏ. Cách này sẽ cho hương vị thơm ngon. Không nên trữ gia vị cay quá lâu mà không sử dụng vì sẽ làm mất đi nhiều hương vị. Nên bảo quản trong vòng 6 tháng.
53. Linh dược từ ngải cứu
Ngải cứu là một loại rau dân dã được trồng ở khắp nước ta và các nước Âu, Á. Do ngải cứu rất giàu dược tính nên nó chữa được nhiều bệnh nhất là các bệnh của phụ nữ.
Canh từ ngải cứu
Canh suông lá ngải cứu tươi non: Chữa đau tức ngực, ho do khí trời lạnh giá.
Canh bổ dưỡng cho phụ nữ sau sinh 15 -20 ngày: Lá ngải cứu tươi 100g rửa sạch. Gà giò 1 con đủ 1 bữa. Chọn được gà ác càng tốt. (lông trắng da thịt đen) mổ moi bỏ lòng, nhồi ngải cứu vào bụng gà, hấp cách thuỷ. Cách ngày 1 con, cả liệu trình 7- 9 con.
Canh trứng gà ngải cứu, chữa đau bụng kinh do lạnh: Lá ngải cứu 30g, trứng gà 2 quả. Nấu chín trứng với ngải cứu. Láy trứng ra bóc vỏ, rồi bỏ lại vào, nấu lại với ngải cứu 10 phút. Ăn trứng hàng ngày trong 7 ngày. Nếu thêm ít hồi hương có tác dụng sẽ mạnh.
Công thức này cũng được chỉ định bồi bổ sức khoẻ cho trường hợp ung thư tử cung (cổ và thân).
Canh trứng gà Ngải cứu, gừng, chữa bế kinh, chậm kinh, thống kinh: Lá ngải cứu 9g, trứng 2 quả, gừng 15g. Nấu như bài trên. Dùng 7 ngày trước khi có kinh.
Canh ngải cứu chữa sẩy thai liên tiếp: lá ngải cứu lâu năm 6g. Trứng gà 2 quả. Vò nát lá ngải cứu cho vào túi nấu lấy nước bỏ túi bã, lấy nước đạp trứng vào đánh đều nấu chín. Ăn cả cái và nước. Liên tục 3 lần. Hoặc lá ngải cứu 40g, trứng gà 1 quả nấu chung cho đến khi trứng chín. Ăn trứng, uống nước. Ngày 1 thang, liên tục 7 ngày. Về sau cứ 1 tháng ăn 1 lần, mỗi lần 2 quả, liên tục cho đến khi sinh.
Cháo ngải cứu
Chữa động thai: lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ. Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 - 5 ngày.
Cháo ngải cứu chữa thấp khớp: lá ngải cứu 100g, lá lốt 200g, gạo xay 200g, rửa sạch hai loại lá xay lấy nước 300ml hoà vào gạo. Đun lửa nhỏ, quay đều không để vón. Ăn nóng lúc đói. Bã lá xào dấm nóng, đắp chườm chỗ sưng đau.
Cháo ngải hoa cúc: lá ngải cứu 100g, hoa cúc 50g, gạo tẻ 200g. Cách làm như trên.
Chào ngải cứu bìm bịp chữa đau liên sườn, đau khớp: lá ngải cứu 50g, bìm bịp 1 con, gạo nếp 200g. Gia vị vừa đủ. Bìm bịp bóp chết, bọc đất bên ngoài dùng củi đốt cho đến khi đất đỏ. Bóc đất, gỡ thịt ướp gia vị, còn (xương, đầu, cánh, chân...) thì giã nát lọc lấy 40ml nước. Nấu chào nhừ rồi cho thịt, nước xương chim, lá ngải cứu đã thái chỉ vào cháo quấy đều. Cháo sôi lại là được. Ăn nóng ngày 1 lần, liền 3 ngày (kinh nghiệm cho thấy hiệu quả cao).
Làm thức uống
Trà: Các tiệm trà ở Nhật Bản bán lá ngải cứu khô để hãm uống bồi bổ sức khoẻ (dùng cho cả sản phụ cho con bú). Để điều kinh cũng dùng cách này uống 6g – 12g chia 3 lần/ngày.
Sách Tây y hướng dẫn dùng lá ngải cứu chống mỡ máu, xơ cứng thành mạch, hạ huyết áp cao. Lá ngải cứu hái trước 10 giờ sáng rửa sạch cho vào máy xay sinh tố, dùng cốc sứ để uống. Nếu khó uống cho thêm một chút mật ong. Có thể hái sẵn cho vào túi nylon để trong tủ lạnh.
Ngày khoảng 100g ngải cứu chia 3 lần uống trước bữa ăn chính.
Nước uống: Cho người động thai đau bụng 4 -8g lá tươi giã vắt lấy nước cốt hoà vào chén mật ong đun sôi uống.
Nước ngải cứu tươi: Chữa đau bụng kinh – 1 nắm lá ngải cứu tươi vắt lấy nước uống.
Nước sắc ngải cứu: chữa kinh nguyệt kéo dài, ra nhiều máu, mệt mỏi suy nhược. Lá ngải cứu khô 10g thêm 200ml sắc còn 100ml uống 1 lần, cho ít đường cho dễ uống.
Nước uống cho người cao huyết áp: ngải cứu khô 10g. Nấu trong đồ sứ (không dùng kim loại). Nấu ngày nào uống ngày đó (không để qua đêm).
Nước sắc ngải cứu chữa chứng thương hàn (của Đông y) thời khí ôn dịch gây sốt cao, đầu nhức, mạch hồng thực. Dùng lá ngải cứu khô 3 lạng (120g), uống nóng cho ra được mồ hôi là khỏi (trửu hậu phương). Khi sắc thuốc ngải cứu có sách dặn “không để ngoài gió”...
Rượu ngải diệp (Thánh tể tổng lục) để ôn kinh, chỉ thống, lá ngải cứu khô 30g, men rượu vừa dùng. Nấu ngải cứu lấy nước đặc cho vào 2kg cơm nếp và men rượu gầy. Sau khi ngâm xong, lọc bỏ bã, cất vào chai. Ngày uống vài lần.
Thuốc ngải cứu
Uống trong: Đã được một số công ty bào chế thành thuocó chữa điều kinh có công thức: ích mẫu, hương phụ, ngải cứu với hàm lượng khác nhau, ở các dạng hoàn, cao lỏng, cao đặc, viên nang.
Sách Đông y có nhiều cổ phương có ngải cứu, chủ yếu để chữa bệnh phụ nữ do rối loạn kinh nguyệt (sớm, muộn, bế kinh, thống kinh...) về thai sản (động thai, sẩy thai) bồi dưỡng sau sinh... thiên về thể hàn, khí trệ.
Dùng ngoài: ngã tức ngực ngất xỉu. Lấy ngay ngải cứu tươi giã nhuyễn lấy nước hoà cùng một lít rượu để uống, bã xoa đắp ngoài.
Trẻ em bị sốt cao cũng làm như trên nhưng chỉ để xoa khắp mình, trừ đầu mặt không xoa, không uống.
Đau lưng lấy lá ngải cứu xào dấm đặt lên giường, lót lá chuối hoặc nilon nằm ngửa đặt lưng lên ngải cứu. Hoặc nằm sấp, đắp chườm ngải cứu lên vùng thắt lưng.
Trị mụn ở mặt: Dùng lá non làm mặt nạ 20 phút sau đó rửa sạch. Dùng toàn thân thì sắc lấy nước cho vào bồn tắm, chữa rôm sảy, mẩn ngứa, mỏi mệt.
Đau họng: giã ngải cứu lấy nước cốt uống từ từ, ít một, bã với ít dấm đắp bên ngoài cổ, phía trước.
Cấm kỵ
Không nên dùng dài ngày. Người nhiệt âm hư không dùng, người cao huyết áp do âm hư hoả vượng, không có hàn thấp, thai sản bình thường không dùng.
Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
