22-06-2012, 03:15 PM
Bây giờ rảnh rỗi chút, mình xin phân tích về LS Cơ Lương.
Mệnh Cơ Lương, dáng ăn vào Thiên Cơ. Tuổi Ất Thiên Cơ Hóa Lộc. Vì thế bản chất ít nhiều mang cái động, không yên bình được. Tuổi Ất Thiên Cơ đứng cùng Thiên Lương là kém hay, vì Thiên Lương chủ ổn định, bền vững, hưởng thụ mà gặp Thiên Cơ hóa lộc động quá nhiều, Thiên Lương lo hưởng thụ vô tâm với đời gặp Thiên Cơ Hóa Lộc ham muốn làm giàu, thành ra gây sự đối lập trong con người, vừa muốn hưởng thụ, lại vừa muốn tiến lên. Nên dẫn đến cảnh thiếu bền chí, thiếu quyết tâm hoặc sợ hãi trước công việc lớn. Đã thế Thiên Cơ ở đây lại hội với Hóa Kỵ, ít nhiều có cảnh suy nghĩ thiếu thực tế, nên khó thành công.
Địa không Kình Dương cùng tại mệnh, lại là 1 sự đối lập khác. 1 mặt bản thân thì muốn làm ăn đứng đắn, dựa vào sức mình để đi lên, nhưng một mặt thì luôn trăn trở: nghiêm túc thì giàu làm sao được. Cứ thế cứ thế dấn thân vào việc xấu lúc nào không hay, để đôi khi nghĩ lại lại giật mình hối hận. Nhưng dù sao, thì có Kình Dương địa không, ít nhiều vẫn xu hướng đẩy bản thân vào con đường xấu, làm ăn thiếu chính đáng, với mong muốn phất nhanh phất mạnh, chứ không muốn chầm chậm mà lên. Nhiều khi ham muốn quá nhiều, tham vọng quá nhanh nên trèo cao, và sau đó ngã đâu. Ham nhiều việc 1 lúc. Cuối cùng chẳng việc nào ra hồn.
Về thời vận: Từ 14-23 tuổi: Vì mệnh không có nhiều văn tinh, lại bị phá cách nặng, nên cái bản tính ham học của Thiên Cơ vẫn được giữ, nhưng thành tích không đáng kể. Vào vận này gặp xương khúc cũng không cải thiện được nhiều. Nhưng cũng phải thấy, giai đoạn này học hành tốt hơn trước 14 tuổi.
Vận này gặp Lộc Tồn miếu, cũng là 1 phúc tinh lớn, nên bản thân vẫn no ấm, ổn định, không có vấn đề gì xảy ra cả.
Từ 24-33 tuổi: Mệnh Cơ Lương vào vận Cự Nhật, vốn là không đẹp, lại gặp Đà La Thiên Không.
Đà La Thiên Không là sự trắc trở, gập ghềnh, rắc rối khó dứt, thế nên công việc gặp nhiều khó khăn, chuyển qua chuyển lại không xong.
Hồng loan đi kèm Đà La Thiên Không, thì tình duyên khó khăn, gặp nhiều trở ngại. Chưa kể ám tinh Cự Môn đứng sẵn, đi cùng Cô Thần quả tú. Nên yêu cô nào thì dễ cãi nhau bất hòa với cô đó. Cuối cùng chẳng ra cái gì. Đại vận này cực kì dở về đường tình duyên. Rất khó cưới vợ trong vận này, nếu có cưới thì trong vận này vợ chồng cũng bất hòa không yên.
Mình không có duyên với cung Phụ Mẫu, xin luận cung Huynh đệ cho bạn.
Bạn có 2 người 1 anh 1 chị. Mình đoán người đầu là anh trai. Dáng mập tròn, mặt thư sinh, học hành có thành tích. Tính tình lãng mạn, thích văn chương nghệ thuật, thích làm thơ. Tuy vậy tính khá là trầm, ít nói, hay suy tư lo lắng, lại trầm ngâm. Tiền bạc có phần kẹt, không thoáng cho lắm. Tính hơi ích kỉ, nghĩ cho bản thân nhiều. Tuy vậy nhưng sống cũng khá tình cảm, dễ mến. Tim đa ngăn nên hồi trẻ yêu đương cũng nhiều.
Người thứ 2 là chị gái, người gầy, dong dỏng, tính khí nóng nảy, học hành cũng được nhưng không bằng anh trai. Tính nóng nảy, thẳng thắn, ngay thẳng, nghĩ gì nói nấy, mạnh bạo và hay ghen. Mặc dù vậy, mặt cũng có nét xinh nét duyên. Tuy không ai khen đẹp, nhưng cũng khối anh phải mê mệt, vì có nét thu hút rất riêng.
Mệnh Cơ Lương, dáng ăn vào Thiên Cơ. Tuổi Ất Thiên Cơ Hóa Lộc. Vì thế bản chất ít nhiều mang cái động, không yên bình được. Tuổi Ất Thiên Cơ đứng cùng Thiên Lương là kém hay, vì Thiên Lương chủ ổn định, bền vững, hưởng thụ mà gặp Thiên Cơ hóa lộc động quá nhiều, Thiên Lương lo hưởng thụ vô tâm với đời gặp Thiên Cơ Hóa Lộc ham muốn làm giàu, thành ra gây sự đối lập trong con người, vừa muốn hưởng thụ, lại vừa muốn tiến lên. Nên dẫn đến cảnh thiếu bền chí, thiếu quyết tâm hoặc sợ hãi trước công việc lớn. Đã thế Thiên Cơ ở đây lại hội với Hóa Kỵ, ít nhiều có cảnh suy nghĩ thiếu thực tế, nên khó thành công.
Địa không Kình Dương cùng tại mệnh, lại là 1 sự đối lập khác. 1 mặt bản thân thì muốn làm ăn đứng đắn, dựa vào sức mình để đi lên, nhưng một mặt thì luôn trăn trở: nghiêm túc thì giàu làm sao được. Cứ thế cứ thế dấn thân vào việc xấu lúc nào không hay, để đôi khi nghĩ lại lại giật mình hối hận. Nhưng dù sao, thì có Kình Dương địa không, ít nhiều vẫn xu hướng đẩy bản thân vào con đường xấu, làm ăn thiếu chính đáng, với mong muốn phất nhanh phất mạnh, chứ không muốn chầm chậm mà lên. Nhiều khi ham muốn quá nhiều, tham vọng quá nhanh nên trèo cao, và sau đó ngã đâu. Ham nhiều việc 1 lúc. Cuối cùng chẳng việc nào ra hồn.
Về thời vận: Từ 14-23 tuổi: Vì mệnh không có nhiều văn tinh, lại bị phá cách nặng, nên cái bản tính ham học của Thiên Cơ vẫn được giữ, nhưng thành tích không đáng kể. Vào vận này gặp xương khúc cũng không cải thiện được nhiều. Nhưng cũng phải thấy, giai đoạn này học hành tốt hơn trước 14 tuổi.
Vận này gặp Lộc Tồn miếu, cũng là 1 phúc tinh lớn, nên bản thân vẫn no ấm, ổn định, không có vấn đề gì xảy ra cả.
Từ 24-33 tuổi: Mệnh Cơ Lương vào vận Cự Nhật, vốn là không đẹp, lại gặp Đà La Thiên Không.
Đà La Thiên Không là sự trắc trở, gập ghềnh, rắc rối khó dứt, thế nên công việc gặp nhiều khó khăn, chuyển qua chuyển lại không xong.
Hồng loan đi kèm Đà La Thiên Không, thì tình duyên khó khăn, gặp nhiều trở ngại. Chưa kể ám tinh Cự Môn đứng sẵn, đi cùng Cô Thần quả tú. Nên yêu cô nào thì dễ cãi nhau bất hòa với cô đó. Cuối cùng chẳng ra cái gì. Đại vận này cực kì dở về đường tình duyên. Rất khó cưới vợ trong vận này, nếu có cưới thì trong vận này vợ chồng cũng bất hòa không yên.
Mình không có duyên với cung Phụ Mẫu, xin luận cung Huynh đệ cho bạn.
Bạn có 2 người 1 anh 1 chị. Mình đoán người đầu là anh trai. Dáng mập tròn, mặt thư sinh, học hành có thành tích. Tính tình lãng mạn, thích văn chương nghệ thuật, thích làm thơ. Tuy vậy tính khá là trầm, ít nói, hay suy tư lo lắng, lại trầm ngâm. Tiền bạc có phần kẹt, không thoáng cho lắm. Tính hơi ích kỉ, nghĩ cho bản thân nhiều. Tuy vậy nhưng sống cũng khá tình cảm, dễ mến. Tim đa ngăn nên hồi trẻ yêu đương cũng nhiều.
Người thứ 2 là chị gái, người gầy, dong dỏng, tính khí nóng nảy, học hành cũng được nhưng không bằng anh trai. Tính nóng nảy, thẳng thắn, ngay thẳng, nghĩ gì nói nấy, mạnh bạo và hay ghen. Mặc dù vậy, mặt cũng có nét xinh nét duyên. Tuy không ai khen đẹp, nhưng cũng khối anh phải mê mệt, vì có nét thu hút rất riêng.
