Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Đi tìm chữ Việt cổ (Bản dự thảo lần thứ nhất để xin ý kiến)
#6
Đi tìm chữ Việt cổ - 5
Đỗ Văn Xuyền
Lần theo dấu vết để tìm ra bộ ký tự này
[Ảnh: ImageView.aspx%3FThumbnailID%3D134545]Chúng ta đã có trong tay một bộ ký tự đặc biệt. Bộ ký tự này nằm rải rác trong một vùng rộng lớn ở Giao Chỉ, Cửu Chân và đặc biệt trong khu vực cư trú tương đối ổn định hàng vạn năm của người Lạc Việt.
Bộ ký tự này còn lưu dấu trên nhiều chất liệu: Đồ đá, đồ đồng, đồ gốm, trên lá cây, trên giấy.
Những dấu vết đó tồn tại trong suốt mấy nghìn năm, phù hợp với những gì chúng ta đã biết về lịch sử dân tộc.
Chúng ta đã chứng minh được: Bộ ký tự này khác hẳn với văn tự các nước xung quanh và cũng không phải là của riêng các dân tộc anh em.
Nhưng liệu đây có phải là thứ chữ riêng của Tổ tiên chúng ta, thứ chữ từ thời đại Hùng Vương mà các nhà khoa học thế giới và trong nước đã từng nhắc tới trong suốt hàng nghìn năm qua?
Điều này không thể suy luận, không thể ngụy biện mà phải căn cứ vào những luận cứ khoa học, căn cứ vào thự tiễn để chứng minh.
Ta lần lượt xét từng đặc điểm.

A. Bộ ký tự này không có dấu
Ngôn ngữ Việt hiện tại có tới 6 thanh. Nhưng ở đây, ta đang nghiên cứu chữ Việt cổ, tức là thứ ký hiệu viết ra để ghi ngôn ngữ của người… Việt cổ cách đây hàng nghìn năm trước.
+ Theo một công trình nghiên cứu của A.G Haudricourt (“Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt” – 1954) thì:
- Đầu công nguyên: Tiếng Việt không có thanh
- Thế kỷ thứ 6: Có 3 thanh
- Thế kỷ thứ 12: Có 6 thanh

+ Ở thị xã Tây Ninh hiện nay, có tộc người Tà Mun từ Tây Nguyên chuyển đến. Họ tự nhận là người Việt gốc. Già, trẻ, lớn, bé đều nói bằng thứ tiếng Việt không có dấu.
+ Người Thượng Hải (gốc Ngô Việt) cho tới giờ đây vẫn chỉ nói có hai thanh: Thanh cao và thanh trầm.
+ Trên Trường Sơn, vùng Quảng Bình có tộc người Chứt, thường gọi là Khả Lá Vàng. Qua công trình nghiên cứu của A. Fraisse năm 1949, những người này nhuộm răng đen, xăm trán. Họ ăn thịt gà nướng, canh cua đồng nấu măng. Phụ nữ đẻ biết “nằm bếp” như người Kinh. Họ tự xưng là người Alak (người Lạc) và nói bằng thứ ngôn ngữ không có dấu: A cho (chó), A ka (cá), kuan gôi (Con gái), Mơ (mẹ)…
- A. de Rhodes lần đầu đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17 nhận xét “Người Việt Nam, nhất là phụ nữ, nói cứ líu ríu như tiếng chim”.
- Hiện nay, ở Hà Đông, Sơn Tây, Phú Thọ, Bắc Ninh… có những làng cổ, người dân nói bằng giọng rất nhẹ, gần như không có dấu, đặc biệt là phụ nữ.

Như vậy, phải chăng loại ký tự này dùng để ghi ngôn ngữ của người Việt cổ thời trước công nguyên, thời kỳ mà Haudricourt cho là tiếng Việt còn chưa có thanh (nên không cần có dấu).
Bị loại bỏ, bị triệt hạ, thứ ký tự đó đã phải tồn tại một cách lén lút suốt mấy nghìn năm cho đến khi chúng ta tìm lại được. Vì vậy không có điều kiện cải tiến cho phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ nói chung. Chúng ta chỉ còn tìm thấy dấu vết thứ ngôn ngữ đó trong các công trình nghiên cứu, trong các tộc người Việt gốc bị “truy sát” từ những ngày đầu bị thống trị, phải trốn tránh, chui lủi từ đời này sang đời khác, trong rừng sâu, núi thẳm hàng nghìn năm qua, không có điều kiện giao dịch với những người Việt văn minh đã có sự phát triển mạnh về ngôn ngữ ở vùng đồng bằng, đô thị.

Loại ký tự không có thanh này vẫn còn lưu lại dấu vết ngay trong ngôn ngữ của người Việt hiện đại.
Ví dụ:
a. Chữ bâu [Ảnh: 37a.jpg] Là bám vào

Nếu là thanh trầm, ta dùng phụ âm [Ảnh: 37b.jpg] (bô)
Bầu. Âm này thành cố định [Ảnh: 38a.jpg]
Nhưng nếu dùng phụ âm cao [Ảnh: b.jpg] (bộ), người ta có thể thay đổi ngữ điệu, tùy từng vùng mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa [Ảnh: 38e.jpg]
Bâu [Ảnh: 38b.jpg] Bậu [Ảnh: 38c.jpg] Bấu [Ảnh: 38d.jpg]
b. Chữ Thâm chỉ màu sắc.
Nếu là thanh trầm ta dùng phụ âm [Ảnh: 38g.jpg]
[Ảnh: 38e-1.jpg] : Thầm: Âm này thành cố định
Nhưng nếu dùng phụ âm cao [Ảnh: 38f.jpg] tuỳ từng vùng có thể thay đổi ngữ điệu
Thâm [Ảnh: 38h.jpg] Thẫm [Ảnh: 38i.jpg] Thậm [Ảnh: 38k.jpg]
B. Đối chiếu với các luận cứ khoa học:
Căn cứ theo định nghĩa của “Đại từ điển Bách khoa” Liên Xô.
Định nghĩa 1: “Chữ viết là những ký hiệu viết ra để ghi ngôn ngữ, không thể tồn tại độc lập ngoài ngôn ngữ”.
Chúng ta đang nghiên cứu CHỮ VIỆT CỔ, như vậy, chúng ta phải chứng minh được: Loại ký tự này có thể hoặc đúng hơn - bắt buộc - phải ghi được đầy đủ tiếng nói của người Việt nhưng là “Việt cổ”.
Sử dụng 11 nguyên âm và 33 (đến phụ âm) với cách sắp xếp vị trí và theo những đặc điểm đã nêu ở trên, chúng ta hoàn toàn có thể ghi được đầy đủ tiếng nói của người Việt, nhưng không phải tiếng nói hiện đại mà tiếng nói của người Việt cổ. Tiếng nói này hiện nay vẫn còn tồn tại một ít, đối với một số người già ít học ở một số vùng quê cổ.

Ví dụ: “Một trăm ống Pê - ni - xi - lin”.
Ở vùng ngoại ô Hà Nội, các cụ già nói: “Một chăm ống Bê xi lin”.
Bởi vì, chữ Việt cổ trong bộ ký tự này thiếu hẳn chữ P, chữ TR, chỉ có chữ B, chữ T hoặc chữ CH.

Tài liệu minh hoạ:
Chúng ta thử chuyển một số tác phẩm văn thơ, nhạc Tiếng Việt từ chữ Quốc ngữ sang chữ Việt cổ.
Việc chuyển đổi này thực hiện được thuận lợi và đạt yêu cầu 100%. Chỉ có điều, chúng ta vẫn phải dùng một ít chữ cáu Việt cổ thay cho những chữ cái mnới chỉ xuất hiện sau khi có chữ Quốc ngữ: S, TR, GI.

II. Định nghĩa 2:
“Một hệ thống chữ viết là hợp lý nếu nó thích ứng với đặc điểm của ngôn ngữ”.
Có nghĩa là: Ngôn ngữ Việt có những đặc điểm gì thì chữ viết phải tuân theo những đặc điểm đó.
Ví dụ 1: Người Việt (xưa và nay) hay nói lẫn giữa â và ơ: Nhơn nghĩa, nhân nghĩa, chân lý, chơn lý, quả gấc, quả gớc, vâng dạ, vơng dạ…
Nếu thứ ký tự ta nghiên cứu đúng là chữ Việt cổ thì chỉ cần một nguyên âm cho cả 2 cách phát âm đó.
(Xin xem phần B: Một số đặc điểm của nguyên âm).

Thí dụ 2:
Người Việt cho đến giờ đây vẫn phát âm không phân biệt giữa D và Gi, S và X: Dòng xông, dan dối, xản xuất…
Nếu thứ ký tự ta nghiên cứu đúng là chữ Việt cổ thì bộ chữ cái không cần có sự phân biệt hai loại phụ âm đó.

(Xem: Một số đặc điểm của phụ âm phần 3).
Như vậy, so với định nghĩa chung, ta thấy bộ ký tự ta nghiên cưu có nhiều khả năng là Chữ Việt cổ vì đã đáp ứng được một số tiêu chuẩn quy định.
Nhưng, trên thế giới mỗi loại ký tự đầu có nguồn gốc phát sinh và nguồn gốc đó đã để lại dấu ấn sâu sắc ngay trong từng câu chữ. Các thứ chữ Phạn, Pali của một số dân tộc anh em vẫn mang dấu ấn chung của dòng SanKrit. Một số ký tự Châu Âu vẫn mang nguồn gốc La Tinh.

[Ảnh: nhac2.jpg][Ảnh: nhac1.jpg][Ảnh: 41.jpg]
C. Còn chữ Việt cổ?
Loại ký tự này ra đời (theo nghiên cứu của thiền sư Lê Mạnh Thát) không chịu ảnh hưởng của bất kỳ loại văn tự nào. Vậy sự sáng tạo ra văn tự này có mang dấu ân của tổ tiên - những người đã làm ra nó?
Chúng ta biết: Dân ta vốn hết sức tôn trọng đạo lý, trong hoàn cảnh nào vẫn chú ý đến tôn ti, trật tự. Chỉ cần nhìn vào cách sắp xếp vị trí các nguyên âm (loại chữ cái, quyết định cho ý nghĩa của từ) với từ nào cần sắp xếp nguyên âm ở trên, từ nào cần sắp xếp nguyên âm ở trước, từ nào nguyên âm phía sau, ta đã thấy được sự nghiêm khắc của các cụ.
Sự “lộn xộn” này đã gây nên nhiều khó khăn khi ta bắt đầu học loại chữ này, nhưng nếu đã là người Việt, mang đạo lý Việt thì vấn đề cũng sẽ trở nên đơn giản. Tất nhiên, sau này, khi có điều kiện, lập tức con cháu sẽ cải tiến ngay. Dù sao, lối sắp xếp rắc rối này cũng đã để lại những dấu tích giúp chúng ta tìm ra nguồn gốc, tìm ra chủ nhân đích thực của loại ký tự đã hàng nghìn năm lưu lạc.
(Xin xem: Thử phân tích các nguyên âm - mục A: Cách sắp xếp vị trí)

D. Giải quyết một số “nghi án” trong lịch sử:
Cũng do đã trải qua hàng nghìn năm lưu lạc nên bộ ký tự này đã để lại nhiều nghi án, đòi hỏi ta phải giải quyết:
+ Năm 246, nhà sư Khương Tăng Hội ở Giao Chỉ đã dịch cuốn Lục độ tập kinh sang chữ Hán và đem sang Giang đông hoằng pháp. Sau gần 18 thế kỷ, tới nay, thiền sư Lê Mạnh Thát căn cứ vào nội dung của cuốn sách đã phát hiện ra: Cuốn Lục độ tập kinh đã được nhà sư Khương tăng Hội chuyển từ một nguyên bản CHỮ VIỆT sang chữ Hán (chứ không phải từ chữ Phạn).
+ Năm 39, trước khi khởi nghĩa, Bà Trưng đã phát hịch kêu gọi đi khắp nới, các tướng tá của hai bà đều đọc hịch này trước khi kéo quân về Hát Môn tụ nghĩa. Hịch này không thể viết bằng chữ Hán vì tới gần 150 năm sau (năm 187) Sĩ Nhiếp mới đưa chữ Hán vào Việt Nam.
+ Trong cuốn Thuyết Uyển của Lưu Hướng (thế kỷ 1 trước CN) có ghi lại một bài hát: Bài Việt ca của một người Việt đã hát khi chèo đò đưa vua Sở qua sông vào thế kỷ 5 trước CN. Bài Việt ca còn được lưu giữ lại nhưng nhà nghiên cứu Quách Mạt Nhược nói: “Đây là của dân tộc Choang vì người Việt làm gì có chữ”.
Với bộ ký tự có được, chúng ta hoàn toàn có thể chuyển bài Việt ca, bài hịch của Hai Bà Trưng và cả cuốn Lục độ tập kinh cũng như một số cuốn kinh khác vào thời đó sang chữ Việt cổ một cách dễ dàng.

E. Dùng chiếc chìa khóa đã giải mã chữ Việt cổ để tìm đọc một sô “cổ tư” hiện chưa đọc được.
Như phần trên đã phân tích, bộ ký tự đã bị thất lạc quá lâu, đã một phần bị biến dạng và được một số dân tộc anh em cải tiến đi để sử dụng riêng.
Dù vậy, tất cả các “loại chữ” đó vẫn giữ được hình dạng cơ bản và vẫn theo những quy tắc, cấu trúc ban đầu của chữ Việt cổ.
Do đó, khi đã nắm vững chữ Việt cổ ta có thể dò đọc được những dấu tích loại chữ này, hiện mới sưu tầm được ở vùng Tây Bắc.
Theo hai tiêu chuẩn chung đã được Quốc tế quy định về một ký tự. Thêm vào đó chúng ta còn giải quyết được 3 vấn đề riêng của chữ Việt do hoàn cảnh lịch sử để lại.
Với kết quả nghiên cứu và thực hiện như trên, chúng ta tin rằng bộ chữ ta đang có, có thể là thứ chữ của tổ tiên mà các bậc tiền bối của chúng ta bỏ ra công sức bao nhiêu năm tìm kiếm.

Nắm vững bộ giải mã chữ Việt cổ, lần tìm lại bước đường lưu lạc thăng trầm mấy chục thế kỷ của thứ di sản vô giá này, chúng ta sẽ phát hiện ra dấu tích chữ Việt cổ rất nhiều trong chữ Quốc ngữ. Chúng ta sẽ chứng minh được: chữ Quốc ngữ chỉ là bước phát triển đột biến của chữ Việt cổ. Chữ của thời đại Vua Hùng không hề mất mà vẫn tồn tại song song cùng dân tộc và sánh ngang hàng với các loại văn tự tiến bộ nhất của nhân loại.
Việt Trì, ngày 19 tháng 5 năm 2008

Đỗ Văn Xuyền
dienbatn và huynh Hùng Sơn đang phỏng vấn bác Đào Văn Xuyền tại nhà riêng .

[Ảnh: V1.jpg]

[Ảnh: V2.jpg]

[Ảnh: V12.jpg]

[Ảnh: V11.jpg]

Mẫu tự ĐẨU TỰ so sánh với các loại chữ khác .

[Ảnh: V18.jpg]

Một số bản dịch chữ việt ra đẩu tự của bác Đào Văn Xuyền .

Hịch của Hai Bà Trưng .

[Ảnh: V3.jpg]

Một đôi cấu đối của bác Xuyền .

[Ảnh: V4.jpg]

Một bài hát dịch ra Đẩu tự .

[Ảnh: V5.jpg]

Một bức tranh .

[Ảnh: V8.jpg]

[Ảnh: V9.jpg]

" Hỡi cô tát nước bên đàng .
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi " .


[Ảnh: V10.jpg]

Trong quá trình đi điền dã tại một bản làng người Thái - Sơn La , dienbatn đã tiếp xúc và làm việc với hậu duệ của một thày Mo khá nổi tiếng , có nhiều đời làm Thày Mo . dienbatn đã được tặng một số bản chữ Thái Cổ ( hiện nay người Thái không còn đọc được - Và khá thú vị là những ký tự Thái cổ này rất gần gũi với ký tự chữ Đẩu Tự của thày giáo ĐỖ VĂN XUYỀN . )

dienbatn cùng một người con thày Mo tại bản người Thái .

[Ảnh: T6-1.jpg]

[Ảnh: T5-2.jpg]

Một số bản văn chữ Thái cổ có niên đại trên 200 năm trước dienbatn được tặng .

[Ảnh: T7.jpg]

[Ảnh: T8.jpg]

[Ảnh: T1-3.jpg]

[Ảnh: T2-3.jpg]


[Ảnh: T3-3.jpg]

[Ảnh: T4-3.jpg]

st
Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 ,
事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Trả lời


Messages In This Thread
Đi tìm chữ Việt cổ (Bản dự thảo lần thứ nhất để xin ý kiến) - bởi Người Lái Đò - 14-06-2012, 10:21 PM

Các chủ đề có liên quan...
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới gửi
  Tập Viết Thư Pháp . các nét Cơ Bản Người Lái Đò 2 290 13-04-2012, 10:20 AM
Bài mới gửi: Người Lái Đò
  Thư pháp Việt Nam Người Lái Đò 1 121 12-04-2012, 11:23 PM
Bài mới gửi: Lạc Xa

Chuyển đến diễn đàn:


Những người đang xem chủ đề này: 1 khách