Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Đi tìm chữ Việt cổ (Bản dự thảo lần thứ nhất để xin ý kiến)
#3
Đi tìm chữ Việt cổ - 2
Đỗ Văn Xuyền
Lựa chọn
[Ảnh: ImageView.aspx%3FThumbnailID%3D134545]Cuộc khai quật của bà Colani - một học giả Pháp ở Viễn Đông Bác cổ năm 1923, với việc phát hiện ra nền văn hóa Hòa Bình đã làm chấn động dư luận quốc tế. Năm 1932, Hội nghị bàn về thời tiền sử ở Viễn Đông, họp tại Hà Nội đã khẳng định “Việt Nam là cái nôi văn minh của nhân loại”. Sau này, qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học nước ngoài như: Trương Quang Trực (Trung Quốc), Vavilov (Nga), Solheim (Mỹ)… bổ sung thêm, đại ý: “Nền văn minh của Việt Nam, trước Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ tới cả nghìn năm”.

Như vậy, chúng ta đã trải qua một thời kỳ văn minh rực rỡ. Riêng về chữ viết chúng ta đã tìm thấy dấu tích các thầy cô thời trước Hán. Các học giả trong và ngoài nước đã xác nhận: “Trước khi chữ Hán xâm nhập, Việt Nam đã từng có chữ viết riêng”. Các nhà nghiên cứu Anh, Tiệp còn khẳng định: Đó là loại chữ tượng thanh (Ký tự ghi âm, có chữ cái ghép vần).
Mặc dầu hàng nghìn năm bị đô hộ, bị bao cuộc chiến tranh tàn phá, trên vùng đất Lạc Việt cổ xưa vẫn còn lưu lại dấu vết của các loại “Ký tự” Tổ tiên đã để lại như: Hình vẽ trên các bãi đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Pá Màng… Dấu vết chữ khoa đẩu trên vách đá Đài Loan (với dạng tượng hình như chữ Hán sơ khai). Và một số nơi trên lục địa Trung Hoa mà các tác phẩm: Thủy Hử (Thi Nại Am), Lộc Đỉnh Ký (Kim Dung)… còn miêu tả lại.
Nhưng tìm lại các ký tự buổi đầu này quả là một điều hết sức khó khăn. Chúng ta chỉ có thể tập trung vào chữ viếg cuối cùng: Chữ Việt cổ tượng thanh.
Đây là loại ký tự có số lượng hết sức phong phú và chắc chắn là hình thức cuối cùng của loại chữ này - từ hình vẽ sơ khai, qua loại chữ tượng hình đơn giản.
Do số lượng hết sức phong phú và có nhiều sự khác biệt về hình dạng, ở nhiều vùng khác nhau, nên ta cần chọn lấy một bộ tiêu biểu nhất làm cơ sở để tập trung nghiên cứu.

Bộ “chữ Thái thổ tự” của Thượng thư Phạm Thận Duật sưu tầm được trong thời gian làm Tri châu Điện Biên vào những năm 1855 – 1856 có thể có đủ những điều kiện ấy. Sở dĩ ta chọn bộ này để nghiên cứu vì 3 lý do.
1. Đây là một bộ tư liệu phong phú nhất, tác giả đã bỏ vào nhiều công sức trong quá trình thu thập.
Về hình dạng: Chữ cái của bộ ký tự này giống với hầu hết chữ cái ở các vùng khác.
Nếu lấy năm 1855 làm mốc, ngược thời gian về trước, ta thấy thứ chữ này có trong Sách Sổ Sang của Filip Bỉnh viết năm 1800 ở Bồ Đào Nha, trong cấu trúc của các chữ Quốc ngữ buổi đầu từ những năm 1621. Ngược lên nữa, ta thấy chữ này xuất hiện trên rìu đồng Bắc Ninh, trên trống đồng Lũng Cú, trên các đĩa gốm của nền văn hóa Hòa Bình mà bà Colani đào được ở chân núi Lam Gan năm 1923…
Xuôi thời gian về hiện tại, ta gặp loại chữ này trong Bài ca hỏa tự của Vương Duy Trinh (1903), trong các công trình sưu tầm chữ Việt cổ của giáo sư Lê Trọng Khánh, Giáo sư Hà Văn Tấn trong sách Mường Thanh Hóa của Viện sỹ Trần Ngọc Thêm (1999) và trong hàng trăm cuốn sách của Sơn La sưu tầm được trong hàng chục năm gần đây.
2. Lý do thứ hai ta chọn bộ chữ này là niềm tin vào cuộc đời tác giả. Phạm Thận Duật quê ở làng Yên Mô - huyện Yên Mô – Ninh Bình, có lòng yêu nước và tinh thần say mê, nghiên cứu. Với kiến thức uyên bác, chỉ trong hai năm ở Tây Bắc ông đã có nhiều công trình có giá trị. Về cuối đời, ông đã từ bỏ những chức vị cao của triều đình (Thượng thư bộ Hình, Tổng tài Quốc Tử Giám, Phó tổng quản Quốc sử quán) để theo vua Hàm Nghi chống Pháp. Bị đầy ra Côn Đảo, sau đó sang Tahiti. Trên đường lưu đầy, ông đã chết vì bị ốm đau và tra tấn. Xác ông bị vứt xuống eo biển Ma - Lắc - Ca. Đến hai năm sau, gia đình mới được tin.
3. Đây là bộ tài liệu phong phú nhưng cũng đầy rẫy những sự vô lý: Các kiến thức đều sai: A, tác giả chú thích là B, B tác giả lại nói là C. Cho nên, mặc dầu đã tồn tại gần 2 thế kỷ, bộ tài liệu không được ai chú ý.
Kiểu ngụy trang và khóa mã này, ta thường gặp khi Tổ tiên muốn dấu đi những di tích, những di sản cần bảo vệ (Kiểu như Miếu Thiên Cổ, miếu thờ đại tướng Thục Nương và nhiều di tích vùng Hà Đông, Sơn Tây cũ…)
Phân tích
Phân tích “chữ Thái thổ Tự”
I. Tác giả ghi rõ: Đây là chữ Thái “thổ tự”, tức là chữ địa phương của riêng người Thái.
Bộ chữ có từ 32 đến 36 chữ cái và 11 nét phụ bốn bên. “Tuy nhiên ít khác nhau, song nếu dùng 3 thể chữ cái ấy đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ thì đều có thể thông với văn tự Trung Châu”.
Điều này vô lí vì:
Lúc này ở Trung Châu, về phương diện công khai chỉ có hai loại văn tự:

1. Chữ Hán (hoặc chữ Nôm)
2. Chữ Quốc ngữ sơ khai chưa được dùng phổ biến, chỉ hạn chế trong phạm vi Tôn giáo.
Người Trung Châu không biết tiếng Thái và chữ Thái. Vì vậy không thể đem loại chữ “Thổ tự” để giao dịch được (1).

(1) Nhưng chi tiết này lại làm xuất hiện một khả năng cần lưu ý: Có thể ở Trung Châu lúc ấy, có những người sử dụng được loại văn tự này (Ví dụ như Tổng dốc Vương Duy Trinh, Án sát Lê Huy Nghiệm và nhiều người khác).
Và như vậy, cần “xem lại” ý kiến của Thượng thư Phạm Thận Duật. Đây có thể không phải là chữ Thái thổ tự mà chỉ có cái vỏ ngụy trang cho chữ Việt Cổ của tổ tiên mà chính Phạm Thận Duật cũng chưa kịp nhận ra.

II. Bảng chữ cái:
Như phần trên đã giới thiệu, tác giả giới thiệu ba bảng chữ cái sưu tầm được ở 3 địa phương khác nhau: Lai Châu, Sơn La, Phù Yên.
Ví dụ: Ở Sơn La, Tuần Giáo, Thuận Châu…
1. Có 17 thể chữ cái thêm vần bằng, có thể đây là những con chữ phụ âm (như các chữ b, l, m, c, kh… ở Quốc Ngữ) nhưng chỉ để ghép với các từ thuộc thanh bằng.
2. Có 16 chữ cái theo vần trắc (có thể là những con chữ phụ âm chỉ để ghép với các từ thuộc thanh trắc).
3. 11 nét phụ cho các từ vầng bằng (Nguyên văn chữ Hán là “mai” âm Thái là “mây” có nghĩa như dấu (accents). Tác giả gọi là các nét phụ bốn bên (tứ bàng phụ họa).

Nhận xét
Tất cả 3 chú thích này đều hoàn toàn sai. Bộ chữ này không có dấu. Vì vậy cũng không thể có chữ cái theo vần trắc.
Trong số 44 chữ cái giới thiệu chì có 2 loại:
1. Nguyên âm (voyelles): Đó là chữ mà tác giả nhầm là dấu (accents)
Có 11 chữ:
Mai công: Ô [Ảnh: 11-1.jpg]

Mai cô: UÔ, UÂ [Ảnh: u10-1.jpg]
Mai kê: E [Ảnh: scan0005.jpg]
Mai Cư: Ư [Ảnh: 2a956863.jpg]
Mai Ca: A [Ảnh: A.jpg]
Mai cơ: IÊ [Ảnh: maico.jpg]
Mai cơ: I [Ảnh: i.jpg]
Mai căng: Ă [Ảnh: maicng.jpg]
Mai câm: Â (thiếu trong tư liệu chính)
Mai cầm: U [Ảnh: 12a.jpg]
Riêng [Ảnh: maikhuong.jpg] Mai khuông (chưa thấy sử dụng)
Để có thể đọc, viết được mọi loại ký tự này, còn cần bổ sung thêm một số nguyên âm.
[Ảnh: 02b72593.jpg] đọc là Ơ hoặc Â

[Ảnh: 0b782779.jpg] đọc là Ơ hoặc Ê
[Ảnh: 03f4a407.jpg] đọc là ƯƠ
Nguyên âm khóa đuôi, đọc là O hoặc U [Ảnh: ou.jpg]
Nguyên âm khóa đuôi, đọc là I hoặc Y [Ảnh: iy-1.jpg]
[Ảnh: untitled.jpg]
Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 ,
事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Trả lời


Messages In This Thread
Đi tìm chữ Việt cổ (Bản dự thảo lần thứ nhất để xin ý kiến) - bởi Người Lái Đò - 14-06-2012, 10:15 PM

Các chủ đề có liên quan...
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới gửi
  Tập Viết Thư Pháp . các nét Cơ Bản Người Lái Đò 2 294 13-04-2012, 10:20 AM
Bài mới gửi: Người Lái Đò
  Thư pháp Việt Nam Người Lái Đò 1 124 12-04-2012, 11:23 PM
Bài mới gửi: Lạc Xa

Chuyển đến diễn đàn:


Những người đang xem chủ đề này: 1 khách