Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Đi tìm chữ Việt cổ (Bản dự thảo lần thứ nhất để xin ý kiến)
#2
Đi tìm chữ Việt cổ - 1
Đỗ Văn Xuyền
Trên đường tìm kiếm
Dấu tích chữ Việt cổ dạng tượng thanh - Loại ký tự đã có chữ cái ghép vần – Tìm thấy ở vùng Giao Chỉ cửu chân
[Ảnh: ImageView.aspx%3FThumbnailID%3D134545]Đây là loại chữ, ta tìm thấy ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, trong khoảng thời gian hàng nghìn năm và trên nhiều chất liệu: Đồ đá, đồ gốm, đồ đồng và cả trên mặt giấy.
1. Trên trống đồng:
+ Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi về trống đồng Đan Nê (Yên Định, Thanh Hóa):
+ “… Trên mặt có 9 vành hoa văn. Bốn bên tang trống có dây dọc và chữ VẠN, văn như chữ khoa đẩu, lâu ngày mòn mất không thể đọc được. Tương truyền Hùng Vương đúc trống này…”
+ Trong cuốn “Trống đồng vùng Đất Tổ”, Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn giới thiệu 75 chiếc trống đồng đã tìm thấy ở Phú Thọ (tới năm 2000), trong đó có trống Lai Đồng và Ngọc Lập, trên mặt có khắc chữ nhưng đã bị cạo sứt hết.
+ Đặc biệt, tháng 3/1970, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phát hiện một trống đồng để trong nhà dân ở Lũng Cú (Hà Giang), trên tang trống có hai hàng 8 chữ cái:

[Ảnh: 12a.jpg] (u) [Ảnh: 12b.jpg] (đ) [Ảnh: 12c.jpg] (ng)
+ Năm 1889, tại cuộc đấu xảo quốc tế ở Pari có trưng bày một trống đồng do Phó sứ Moulíe lấy được tại nhà một quan lang ở Hòa Bình gần sông Đà.
Trên tang trống có khắc hình những người đang cầm đọc văn bản. Hình ảnh này nhắc ta nhớ lại báo cáo của Mã Viện gửi lên Hán Quang Đế năm 43:
“Giao Chỉ đã biết làm giấy mật hương, loại giấy trắng thả xuống nước không nát.
… Luật Việt khác luật Hán trên 10 điều…”

2. Trên đồ gốm:
Năm 1923, bà Colani đào được ở chân núi Lam Gan Hòa Bình nhiều hiện vật đồ đá cách đây khoảng 8000 năm, đã gây chấn động dư luận quốc tế. Trong số đó có hai chiếc đĩa gốm có khắc chữ, qua hình dạng có người đoán là chữ Sỹ (士)
Và chữ Thượng (上) của Trung Quốc. Nay ta đã giải mã được. Đó là chữ SÔ [Ảnh: 13a.jpg] tương tự chữ X và chữ Ố [Ảnh: 13b.jpg]tương tự chữ O của quốc ngữ. Ta có thể gặp hai chữ này trong rất nhiều tại liệu Việt cổ đã tìm được.

3. Trên chiếc rìu đá do Đỗ Quý Bào tìm thấy ở đồi Giàm Việt Trì. [Ảnh: 13c.jpg](n)
4. Trên tảng đá ở Hầu Thào 1 ở Sa Pa (sau khi cạo sạch lớp rêu phủ)
[Ảnh: 13a.jpg] (S,X) [Ảnh: 13d.jpg] ® [Ảnh: 13e.jpg] ©
5. Trên rìu đồng Bắc Ninh
[Ảnh: 273c97a7.jpg] (ă) [Ảnh: 14a.jpg] (t) [Ảnh: 12c.jpg] (ng)
6. Trong hiện vật đồng (tấm che ngực) của Viện bảo tàng Lịch sử
[Ảnh: n6.jpg] (n) [Ảnh: 12a.jpg] (u) [Ảnh: ng6.jpg] (ng)
7. Trong bài ca Hỏa tự của Vương Duy Trinh (1903)
[Ảnh: n7.jpg] (n) [Ảnh: 7-14.jpg] (cu = qu) [Ảnh: 7m.jpg] (m)
8. Trong trang sách Mường Thanh Hóa do viện sỹ Trần Ngọc Thêm giới thiệu trong "Cơ sở Văn hóa Việt Nam” 1999.
[Ảnh: h8.jpg] (h) [Ảnh: n7.jpg] (n) [Ảnh: 7-14.jpg] (cu = qu)
9. Trong một số vùng ở Tây Bắc (theo giáo sư Lê Trọng Khánh):
- Vùng Mường La: [Ảnh: B9.jpg] (B) [Ảnh: 14a.jpg] (t)
- Vùng Mường Lay: [Ảnh: c9.jpg] © [Ảnh: ph9.jpg] (ph)
- Vùng Mộc Châu: [Ảnh: h9.jpg] (h)
- Vùng Phong Thổ: [Ảnh: iy.jpg] (i, y) [Ảnh: l9.jpg] (l)
10. Trong bộ chữ Thái thổ tư do Thượng thư Phạm Thận Duật sưu tầm trên Tây Bắc năm 1855 – 1856
- Ở Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai:
[Ảnh: O10.jpg] (O) [Ảnh: 7m.jpg] (m) [Ảnh: u10.jpg] (uô, uâ)
- Ở Tuần Giáo, Thuận Châu:
[Ảnh: B9.jpg] (B) [Ảnh: D10.jpg] (D)
- Ở Châu Phù Yên:
[Ảnh: ch10.jpg] (ch) [Ảnh: a10.jpg] (a)
11. Ở rất nhiều văn bản tìm thấy hiện để ở Bảo tàng và Thư viện Sơn La:
[Ảnh: 13b.jpg] (O) [Ảnh: th11.jpg] (th) [Ảnh: 11-1.jpg] (Ô)
12. Đặc biệt, ta còn tìm được nguyên vẹn CẤU TRÚC CỦA CHỮ VIỆT CỔ đã khoác VỎ LA TINH trong các tác phẩm đầu tiên của chữ Quốc ngữ.
- Trong “Thư báo cáo” của Gaspa Loui viết từ Ma Cao (1621): Ontrum, Nouoeman
- Trong hồi ký của Cirs – tô – phô – rô Bori (1631): Quanghia, Chiuua, Omgne
- Trong sách giảng 8 ngày của A. de Rhodes: Tỏ tưầng, ∫óũ, ∫aũ le.
- Trong từ điển Việt Bồ La của A. de Rhodes (1651): Con ruầi, tổ aõ, Sáp aõ, Saũ le
- Trong từ điển của Pisneau de behaine (1772) và từ điển của Taberd (1830): Duiên, Khuia
- Trong từ điển của Aubaret (1861): Huình, huinh, Koặp
...

13. Trong “Sách sổ sang” của linh mục filip Bỉnh viết ở thủ đô Lisbon - Bồ Đào Nha (từ 1790 – 1820), do viết tay nên ngoài những chữ quốc ngữ có cấu trúc của chữ Việt cổ khoác vỏ La Tinh, ta còn gặp nguyên dạng chữ Việt cổ trong suốt hớn 600 trang sách.
- Khaóc laóc, Vỏng, Cụ Cuiền, Phu xưấng phụ tùi.
[Ảnh: d.jpg] Tra[Ảnh: tra.jpg] ∫a[Ảnh: fa.jpg] Excomunha[Ảnh: ex.jpg]
Riêng trang 147 có 22 dòng thì có tới 12 từ có cấu trúc Việt cổ vỏ La Tinh và 11 từ còn lưu lại nguyên dạng chữ Việt cổ (11 từ này, mỗi từ có 3 chữ cái thì hai chữ nguyên dạng chữ Việt cổ: A [Ảnh: 13b.jpg] (a = o) đọc là Ô và [Ảnh: 12c.jpg] (ng) đọc là ngộ.
Có thể nói: Trong khắp vùng Giao Chỉ, Cửu Chân cũ, suốt mấy nghìn năm, nhân dân ta đã tìm mọi cách lưu giữ lại nguyên vẹn những chữ Việt cổ trong lần cải tiến cuối cùng của chữ Khoa đẩu: Từ những ký hiệu, những chữ tượng hình… chuyển sang chữ tượng thanh: Loại có chữ cái ghép vần.
Loại chữ này tìm thấy ở một vùng không gian rộng lớn cách nhau hàng nghìn cây số, với khoảng thời gian chênh nhau hàng nghìn năm nhưng có một đặc điểm chung về hình dạng chữ cái, về cấu trúc của các từ cơ bản là thống nhất. Điều đó chứng tỏ, chúng có chung một nguồn gốc và sẽ rất thuận lợi cho chúng ta khi so sánh, tìm hiểu, nhưng cũng gây cho ta không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu vì một số lý do:
1. Sự thay đổi con chữ đối với các dân tộc anh em:
Do tính chất khoa học và tiện lợi, một số dân tộc anh em đã sử dụng loại ký tự này để ghi ngôn ngữ của dân tộc mình. Nhưng do sự khác nhau đôi chút về ngôn ngữ, bộ ký tự Việt cổ còn thiếu một số chữ cái. Trong quá trình sử dụng họ đã có sự bổ sung, cải tiến cho phù hợp với dân tộc mình.
Ví dụ: Bộ ký tự này thiếu chữ P đứng đầu từ, trong khi người Thái lại cần rất nhiều phụ âm P (Pí noọng, Pa ử…). Họ đã dùng chứ P khóa đuôi của Việt cổ thay cho chữ P đứng đầu còn thiếu:
Ví dụ:
Chữ PHÁP [Ảnh: 16a.jpg] (PH - A - P)

Chữ PAP [Ảnh: 16b.jpg] (… - A - P)
Không viết được vì Việt cổ không có P đứng đầu từ.
Người Thái đã viết: [Ảnh: 16c.jpg]

Ví dụ: [Ảnh: tam.jpg] Tam [Ảnh: tan.jpg] Tan
Để khỏi nhầm lẫn, người Thái đã cải tiến chữ [Ảnh: 17a.jpg] thành 2 chữ

[Ảnh: N17.jpg] (là N khóa đuôi) [Ảnh: m17.jpg] (là M khóa đuôi)
2. Sự thay đổi hình dạng các chữ một cách tùy tiện:
Do không có điều kiện làm bản khắc gỗ và máy in, việc viết bằng tay đã xày ra sự tự do tùy tiện đối với mỗi cá nhân ở những vùng khác nhau. Vì vậy cũng là chữ Việt cổ nhưng có chữ ta chưa đọc được vì đã biến dạng.
Ví dụ:
Chữ O Ở Tuần Giáo viết là [Ảnh: ChuOTG.jpg]

Ở Quỳnh Nhai viết là [Ảnh: OQN.jpg]
Ở Phù Yên viết là [Ảnh: OPY.jpg]
Ở Sơn La viết là [Ảnh: 13a.jpg]
Chữ X Ở Lai Châu viết là [Ảnh: XLC.jpg]
Ở Phù Yên viết là [Ảnh: XPY.jpg]
3. Tình trạng phiên âm sai còn xảy ra không phải ít:
Gây khó khăn cho giai đoạn đầu khi cần giải mã bộ ký tự này - đặc biệt ngay trong bộ chữ Thái Thổ Tự của Thượng thư Phạm Thận Duật là bộ chữ chúng ta sẽ dựa vào là chính để nghiên cứu. Ví dụ:
+ Ở trang 201 dòng Chữ [Ảnh: thi.jpg] (thi) Lại phiên âm là Bố
+ Ở trang 201 dòng Chữ [Ảnh: nhu.jpg] (nhu) Lại phiên âm là Khổng
+ Ở trang 2 Chữ [Ảnh: ac.jpg] (Ác) Lại phiên âm là Á
Hầu hết các trang sách giới thiệu 1500 từ “chữ Thái thổ tự” trong bộ tài liệu ta đều gặp phải các sai sót này.

Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 ,
事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Trả lời


Messages In This Thread
Đi tìm chữ Việt cổ (Bản dự thảo lần thứ nhất để xin ý kiến) - bởi Người Lái Đò - 14-06-2012, 10:13 PM

Các chủ đề có liên quan...
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới gửi
  Tập Viết Thư Pháp . các nét Cơ Bản Người Lái Đò 2 295 13-04-2012, 10:20 AM
Bài mới gửi: Người Lái Đò
  Thư pháp Việt Nam Người Lái Đò 1 125 12-04-2012, 11:23 PM
Bài mới gửi: Lạc Xa

Chuyển đến diễn đàn:


Những người đang xem chủ đề này: 1 khách