14-06-2012, 10:13 PM
Đi tìm chữ Việt cổ - 1
Đỗ Văn Xuyền
Trên đường tìm kiếmDấu tích chữ Việt cổ dạng tượng thanh - Loại ký tự đã có chữ cái ghép vần – Tìm thấy ở vùng Giao Chỉ cửu chân
1. Trên trống đồng:
+ Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi về trống đồng Đan Nê (Yên Định, Thanh Hóa):
+ “… Trên mặt có 9 vành hoa văn. Bốn bên tang trống có dây dọc và chữ VẠN, văn như chữ khoa đẩu, lâu ngày mòn mất không thể đọc được. Tương truyền Hùng Vương đúc trống này…”
+ Trong cuốn “Trống đồng vùng Đất Tổ”, Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn giới thiệu 75 chiếc trống đồng đã tìm thấy ở Phú Thọ (tới năm 2000), trong đó có trống Lai Đồng và Ngọc Lập, trên mặt có khắc chữ nhưng đã bị cạo sứt hết.
+ Đặc biệt, tháng 3/1970, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phát hiện một trống đồng để trong nhà dân ở Lũng Cú (Hà Giang), trên tang trống có hai hàng 8 chữ cái:
(u)
(đ)
(ng)Trên tang trống có khắc hình những người đang cầm đọc văn bản. Hình ảnh này nhắc ta nhớ lại báo cáo của Mã Viện gửi lên Hán Quang Đế năm 43:
“Giao Chỉ đã biết làm giấy mật hương, loại giấy trắng thả xuống nước không nát.
… Luật Việt khác luật Hán trên 10 điều…”
2. Trên đồ gốm:
Năm 1923, bà Colani đào được ở chân núi Lam Gan Hòa Bình nhiều hiện vật đồ đá cách đây khoảng 8000 năm, đã gây chấn động dư luận quốc tế. Trong số đó có hai chiếc đĩa gốm có khắc chữ, qua hình dạng có người đoán là chữ Sỹ (士)
Và chữ Thượng (上) của Trung Quốc. Nay ta đã giải mã được. Đó là chữ SÔ
tương tự chữ X và chữ Ố
tương tự chữ O của quốc ngữ. Ta có thể gặp hai chữ này trong rất nhiều tại liệu Việt cổ đã tìm được.3. Trên chiếc rìu đá do Đỗ Quý Bào tìm thấy ở đồi Giàm Việt Trì.
(n)4. Trên tảng đá ở Hầu Thào 1 ở Sa Pa (sau khi cạo sạch lớp rêu phủ)
(S,X)
®
©
(ă)
(t)
(ng)
(n)
(u)
(ng)
(n)
(cu = qu)
(m)
(h)
(n)
(cu = qu)- Vùng Mường La:
(B)
(t)- Vùng Mường Lay:
©
(ph)- Vùng Mộc Châu:
(h)- Vùng Phong Thổ:
(i, y)
(l)10. Trong bộ chữ Thái thổ tư do Thượng thư Phạm Thận Duật sưu tầm trên Tây Bắc năm 1855 – 1856
- Ở Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai:
(O)
(m)
(uô, uâ)
(B)
(D)
(ch)
(a)
(O)
(th)
(Ô)- Trong “Thư báo cáo” của Gaspa Loui viết từ Ma Cao (1621): Ontrum, Nouoeman
- Trong hồi ký của Cirs – tô – phô – rô Bori (1631): Quanghia, Chiuua, Omgne
- Trong sách giảng 8 ngày của A. de Rhodes: Tỏ tưầng, ∫óũ, ∫aũ le.
- Trong từ điển Việt Bồ La của A. de Rhodes (1651): Con ruầi, tổ aõ, Sáp aõ, Saũ le
- Trong từ điển của Pisneau de behaine (1772) và từ điển của Taberd (1830): Duiên, Khuia
- Trong từ điển của Aubaret (1861): Huình, huinh, Koặp
...
13. Trong “Sách sổ sang” của linh mục filip Bỉnh viết ở thủ đô Lisbon - Bồ Đào Nha (từ 1790 – 1820), do viết tay nên ngoài những chữ quốc ngữ có cấu trúc của chữ Việt cổ khoác vỏ La Tinh, ta còn gặp nguyên dạng chữ Việt cổ trong suốt hớn 600 trang sách.
- Khaóc laóc, Vỏng, Cụ Cuiền, Phu xưấng phụ tùi.
Dà
Tra
∫a
Excomunha![[Ảnh: ex.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/ex.jpg)
Riêng trang 147 có 22 dòng thì có tới 12 từ có cấu trúc Việt cổ vỏ La Tinh và 11 từ còn lưu lại nguyên dạng chữ Việt cổ (11 từ này, mỗi từ có 3 chữ cái thì hai chữ nguyên dạng chữ Việt cổ: A
Tra
∫a
Excomunha![[Ảnh: ex.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/ex.jpg)
(a = o) đọc là Ô và
(ng) đọc là ngộ.Có thể nói: Trong khắp vùng Giao Chỉ, Cửu Chân cũ, suốt mấy nghìn năm, nhân dân ta đã tìm mọi cách lưu giữ lại nguyên vẹn những chữ Việt cổ trong lần cải tiến cuối cùng của chữ Khoa đẩu: Từ những ký hiệu, những chữ tượng hình… chuyển sang chữ tượng thanh: Loại có chữ cái ghép vần.
Loại chữ này tìm thấy ở một vùng không gian rộng lớn cách nhau hàng nghìn cây số, với khoảng thời gian chênh nhau hàng nghìn năm nhưng có một đặc điểm chung về hình dạng chữ cái, về cấu trúc của các từ cơ bản là thống nhất. Điều đó chứng tỏ, chúng có chung một nguồn gốc và sẽ rất thuận lợi cho chúng ta khi so sánh, tìm hiểu, nhưng cũng gây cho ta không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu vì một số lý do:
1. Sự thay đổi con chữ đối với các dân tộc anh em:
Do tính chất khoa học và tiện lợi, một số dân tộc anh em đã sử dụng loại ký tự này để ghi ngôn ngữ của dân tộc mình. Nhưng do sự khác nhau đôi chút về ngôn ngữ, bộ ký tự Việt cổ còn thiếu một số chữ cái. Trong quá trình sử dụng họ đã có sự bổ sung, cải tiến cho phù hợp với dân tộc mình.
Ví dụ: Bộ ký tự này thiếu chữ P đứng đầu từ, trong khi người Thái lại cần rất nhiều phụ âm P (Pí noọng, Pa ử…). Họ đã dùng chứ P khóa đuôi của Việt cổ thay cho chữ P đứng đầu còn thiếu:
Ví dụ:
Chữ PHÁP
(PH - A - P)Chữ PAP
(… - A - P)Không viết được vì Việt cổ không có P đứng đầu từ.
Người Thái đã viết:
![[Ảnh: 16c.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/16c.jpg)
Ví dụ:
Tam
TanĐể khỏi nhầm lẫn, người Thái đã cải tiến chữ
thành 2 chữ
(là N khóa đuôi)
(là M khóa đuôi)Do không có điều kiện làm bản khắc gỗ và máy in, việc viết bằng tay đã xày ra sự tự do tùy tiện đối với mỗi cá nhân ở những vùng khác nhau. Vì vậy cũng là chữ Việt cổ nhưng có chữ ta chưa đọc được vì đã biến dạng.
Ví dụ:
Chữ O Ở Tuần Giáo viết là
![[Ảnh: ChuOTG.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/ChuOTG.jpg)
Ở Quỳnh Nhai viết là
![[Ảnh: OQN.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/OQN.jpg)
Ở Phù Yên viết là
![[Ảnh: OPY.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/OPY.jpg)
Ở Sơn La viết là
Chữ X Ở Lai Châu viết là
Ở Phù Yên viết là
![[Ảnh: XPY.jpg]](http://i320.photobucket.com/albums/nn325/thuytien84/XPY.jpg)
3. Tình trạng phiên âm sai còn xảy ra không phải ít:
Gây khó khăn cho giai đoạn đầu khi cần giải mã bộ ký tự này - đặc biệt ngay trong bộ chữ Thái Thổ Tự của Thượng thư Phạm Thận Duật là bộ chữ chúng ta sẽ dựa vào là chính để nghiên cứu. Ví dụ:
+ Ở trang 201 dòng Chữ
(thi) Lại phiên âm là Bố+ Ở trang 201 dòng Chữ
(nhu) Lại phiên âm là Khổng+ Ở trang 2 Chữ
(Ác) Lại phiên âm là ÁHầu hết các trang sách giới thiệu 1500 từ “chữ Thái thổ tự” trong bộ tài liệu ta đều gặp phải các sai sót này.
Phạ Sự , Nhẫn Sự , Bất Sinh Sự
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
Bình Tâm , Thủ tâm , Mạc Sinh Tâm
怕 事 , 忍 事 , 不 生 事
平 心 . 守 心 . 莫 生 心
