Trước mắt, Khoai lý giải về Tuần Triệt.
Có lẽ đây là vấn đề gần như ít người chia sẻ. Trên các diễn đàn mạng và các sách vở ít đề cập đến bản chất của Tuần Triệt. Bài viết này của Khoai có thể là bài viết mở đầu về Tuần Triệt. Vì vậy, kính xin mọi sự sao lưu xin đề rõ nguồn www.lysoviet.com.
Bàn về Tuần Triệt, xưa nay có nhiều cách lý giải và cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Có người nói sao này sợ tuần triệt, sao kia không sợ. Lại có người nói Triệt chỉ ảnh hưởng trước 30, Tuần chỉ ảnh hưởng sau 30 v.v..
Nguyên nhân của những kết luận đó có lẽ mang đầy tính kinh nghiệm và cảm giác, không có cơ sở lý luận rõ ràng.
Muốn tìm ý nghĩa gốc rễ của Tuần Triệt, chúng ta cần hiểu về cách an của nó.
Trước hết an Triệt :
Năm Giáp - Kỷ, Triệt an tại Thân Dậu
Năm Ất - Canh, Triệt an tại Ngọ Mùi
v.v...
( Mọi người tự tìm hiểu thêm về Tuần)
Chúng ta thử đặt câu hỏi : Tại sao có nguyên lý an sao đó?
Tìm hiểu, chúng ta thấy điểm chung gì giữa Giáp và Kỷ, Ất và Canh?
Chúng ta đi từng bước
Bước 1 : Tìm can tháng ( Dùng ngũ hổ độn hoặc công thức sau
Số can năm nhân 2 công 1. Nếu lớn hơn 10, trừ đi 10. Số dư ra chính là số của Can tháng
Ví dụ : Can giáp, số 1. 1*2+1 = 3. Đó là Can Bính. Vậy ta có tháng 1 là tháng Bính Dần.
Bước 2 : Lập thành
Từ công thức trên ta thấy, can Giáp và Kỷ cùng chung tháng Bính Dần. Can Ất và Canh cùng chung tháng Mậu Dần.
Từ công thức an Triệt, ta thấy, năm Giáp và Kỷ thì Triệt an tại Thân Dậu. Đếm từ tháng Bính Dần, đến Thân Dậu lần lượt là Nhâm Thân, Quý Dậu.
Tương tự, năm Ất Canh, Triệt an tại Ngọ Mùi. Đếm từ tháng 1 là tháng Mậu Dần, đến Ngọ Mùi là Nhâm Ngọ, Quý Mùi...
Tính tương tự, ta nhận ra 1 điều...
Triệt an tại các cung có Can tháng là Nhâm Quý và Giáp Ất.
Đồng thời, áp dụng với Tuần ta cũng có kết luận tương tự.
Bước 3 : Nhâm Quý và Giáp Ất biểu hiện điều gì.
Giáp Ất là mộc, khởi đầu cho Can
Nhâm Quý là thủy, kết thúc cho Can.
Tuần triệt an tại các cung có Can là sự : Khởi đầu và kết thúc.
Mặt khác, áp dụng nạp Giáp cho quái. Ta thấy:
Càn nạp Giáp, Nhâm
Khôn nạp Ất, Quý.
Vậy thì, tại Giáp Nhâm và Ất Quý là chu trình khởi và khép của Càn Khôn. Càn dương, Khôn âm.
Đến đây chắc các bạn đã hiểu. Và ta nhớ lại câu phú mà anh Minhgiac đã chia sẻ trên diễn đàn tuvilyso.org : Tuần triệt tác âm dương.
Tuần Triệt đại diện cho Càn Khôn, định vị âm dương
Vậy là chúng ta đã hiểu về bản chất của việc an Tuần Triệt, Khoai sẽ phân tích tính ứng dụng của Tuần Triệt ở bài sau. Mọi người thảo luận và góp ý nhé. Và chúng ta cùng thử trả lời câu hỏi : Tuần Triệt định vị âm dương, vậy nó có tác động như thế nào đối với các chính tinh, lục sát, xương khúc, tả hữu v.v....
Có lẽ đây là vấn đề gần như ít người chia sẻ. Trên các diễn đàn mạng và các sách vở ít đề cập đến bản chất của Tuần Triệt. Bài viết này của Khoai có thể là bài viết mở đầu về Tuần Triệt. Vì vậy, kính xin mọi sự sao lưu xin đề rõ nguồn www.lysoviet.com.
Bàn về Tuần Triệt, xưa nay có nhiều cách lý giải và cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Có người nói sao này sợ tuần triệt, sao kia không sợ. Lại có người nói Triệt chỉ ảnh hưởng trước 30, Tuần chỉ ảnh hưởng sau 30 v.v..
Nguyên nhân của những kết luận đó có lẽ mang đầy tính kinh nghiệm và cảm giác, không có cơ sở lý luận rõ ràng.
Muốn tìm ý nghĩa gốc rễ của Tuần Triệt, chúng ta cần hiểu về cách an của nó.
Trước hết an Triệt :
Năm Giáp - Kỷ, Triệt an tại Thân Dậu
Năm Ất - Canh, Triệt an tại Ngọ Mùi
v.v...
( Mọi người tự tìm hiểu thêm về Tuần)
Chúng ta thử đặt câu hỏi : Tại sao có nguyên lý an sao đó?
Tìm hiểu, chúng ta thấy điểm chung gì giữa Giáp và Kỷ, Ất và Canh?
Chúng ta đi từng bước
Bước 1 : Tìm can tháng ( Dùng ngũ hổ độn hoặc công thức sau

Số can năm nhân 2 công 1. Nếu lớn hơn 10, trừ đi 10. Số dư ra chính là số của Can tháng
Ví dụ : Can giáp, số 1. 1*2+1 = 3. Đó là Can Bính. Vậy ta có tháng 1 là tháng Bính Dần.
Bước 2 : Lập thành
Từ công thức trên ta thấy, can Giáp và Kỷ cùng chung tháng Bính Dần. Can Ất và Canh cùng chung tháng Mậu Dần.
Từ công thức an Triệt, ta thấy, năm Giáp và Kỷ thì Triệt an tại Thân Dậu. Đếm từ tháng Bính Dần, đến Thân Dậu lần lượt là Nhâm Thân, Quý Dậu.
Tương tự, năm Ất Canh, Triệt an tại Ngọ Mùi. Đếm từ tháng 1 là tháng Mậu Dần, đến Ngọ Mùi là Nhâm Ngọ, Quý Mùi...
Tính tương tự, ta nhận ra 1 điều...
Triệt an tại các cung có Can tháng là Nhâm Quý và Giáp Ất.
Đồng thời, áp dụng với Tuần ta cũng có kết luận tương tự.
Bước 3 : Nhâm Quý và Giáp Ất biểu hiện điều gì.
Giáp Ất là mộc, khởi đầu cho Can
Nhâm Quý là thủy, kết thúc cho Can.
Tuần triệt an tại các cung có Can là sự : Khởi đầu và kết thúc.
Mặt khác, áp dụng nạp Giáp cho quái. Ta thấy:
Càn nạp Giáp, Nhâm
Khôn nạp Ất, Quý.
Vậy thì, tại Giáp Nhâm và Ất Quý là chu trình khởi và khép của Càn Khôn. Càn dương, Khôn âm.
Đến đây chắc các bạn đã hiểu. Và ta nhớ lại câu phú mà anh Minhgiac đã chia sẻ trên diễn đàn tuvilyso.org : Tuần triệt tác âm dương.
Tuần Triệt đại diện cho Càn Khôn, định vị âm dương
Vậy là chúng ta đã hiểu về bản chất của việc an Tuần Triệt, Khoai sẽ phân tích tính ứng dụng của Tuần Triệt ở bài sau. Mọi người thảo luận và góp ý nhé. Và chúng ta cùng thử trả lời câu hỏi : Tuần Triệt định vị âm dương, vậy nó có tác động như thế nào đối với các chính tinh, lục sát, xương khúc, tả hữu v.v....
