02-03-2012, 12:40 PM
Siêu tài liệu: Thầy bói lợn đoán số Cô Bé Tý Hàng bạc
Linh Xuyên
[B]Số Bé phải xa cha 28 năm – Suốt thời gian này, sao Bé không về làng thăm cha? Trường hợp ly kỳ Bé Tái ngộ cha – Tình cờ định mệnh giữa vụ thoát ly và đoàn tụ của Bé – Những “tài ngoại” của Bé dưới ngòi viết chủ báo “Avenir du Tonkin”
[I](Đoạn tiếp của câu chuyện kể đời sống bà Bé Tý hàng Bạc Hà Nội)
Thầy bói Lợn
Từ ngày bé đi biệt khỏi làng, thầy ĐỀ VĂN GIẢNG nhớ con hoài. Bảy năm sau, nhân đi dự đám tang người anh họ ở làng BẦN YÊN NHÂN, thầy đề nghe danh thầy bói LỢN ngày đó, chừng 30 tuổi đã nổi tiếng coi hay tại chợ ĐƯỜNG CÁI. Vì bệnh trái trời nặng, lòa hai mắt , mặt rỗ, thầy bói khụt khịt mũi như lợn nên có hỗn danh này.
Thầy Đề đặt tiền coi quẻ tìm con thất tung, Thầy Lợn gieo quẻ xong, quyết ngay là lúc này chớ đi tìm kiếm vô ích, mòn giầy dép cũng không thấy, dù tình cờ qua cửa nhà con hay đi ngang mặt con giữa đường cũng không thể gặp nhau.
Thầy Đề hỏi:"tại sao?". Thầy nói Lợn đáp:" số mệnh nó khiến xui như vậy....vì cha con phải cách xa nhau 28 năm"
Thầy Đề lại hỏi:" có hi vọng tìm thấy sớm hơn hoặc tự nó nhớ gốc, nhớ cha quay về?". Thầy Lợn lắc đầu rồi hỏi về ngày sinh tháng đẻ của Bé, lâm râm bấn tử vi, cho hay là ít cũng phải 20 năm. Cha con chia lìa nhau thì cũng sẽ bất ngờ đoàn tụ thật li kì hi hữu.
Thầy Đề lại hỏi:" nó đến nay đã 18, 19 tuổi chẳng biết trôi dạt nơi đâu? Có gặp chốn lương thiện tử tế không?"
[B]Đa nhân đa duyên
Thầy Lợn khụt khịt cười đáp:" nói cho ông anh mừng con nhỏ này làm lớn đến nơi. Số nó thật đáo để. Có nó ra đời thì không cha mẹ, hoặc phải ly cách cha mẹ. Số nó mệnh VCD, lập tại Tí, lại đủ Khôi Việt , Tả hữu, thêm Quyền Lộc, Xương Khúc chiếu lại là nó thừa tài làm nên danh giá"
Thầy Lợn khựng lại một lúc rồi tiếp" hiềm nỗi con nhỏ đủ bộ Tham Diêu, Mộc Cái, Hồng đào, thêm Phượng Long đối chiếu Khốc Hư thì hơi....đa đa nhân duyên đấy. Giá mà số này có Tử Phủ nhập miếu ở hạn thì chẳng khác số bà Chúa CHÈ thuở trước. Dầu chẳng được vậy, đây cũng là số cận quí, giàu sang lẫy lừng 1 thời"
Thầy Đề lại hỏi:"Nếu lẫy lừng 1 thời rồi lụn bại thì hi vọng gì?"
Thầy Bói lắc đầu đáp: "Số bất cứ ai cũng vậy chỉ lẫy lừng 1 thời, dài hay ngắn, như hoa chỉ nở 1 lần rồi tàn sớm hay muộn. Số con nhỏ này đáo hạn ĐỊA KIẾP có thể sẽ hết của như THẠCH SÙNG nếu không làm điều phúc đức. Nhưng ngày đó cũng còn lâu khi con nhỏ tuổi về chiều và ông anh lúc đó cũng đã được nó đền đáp báo hiếu đầy đủ.
Thật ra, thầy Đề, lúc đó, chẳng mấy tin tưởng lời thầy bói. Chính cả thầy Lợn cũng không thể ngờ 20 năm sau thầy 49, một sáng kia, cũng buổi chợ đông như bữa đó, có một xe hơi lộng lẫy từ phía Hà Nội sang đậu xịch bên lộ, bước xuống một ông lão vận đồ lụa bạch, đội nón lông ngan đen chóp bạc, theo sau là một thiếu phụ sang trọng len lách qua đám đông đến quán thầy bói. Ông lão ngồi xuống đầu ván, cất tiếng hề hề cười.
[B]Nhớ giai
Thầy Lợn ngẩng mặt, lẩm bẩm: "Quái! Giọng ai nghe quen quen....nhưng đã lâu không tới coi"
Ông lão khà khà cười:" phải, 20 năm qua mới đến thầy đây!"
Ông Lợn khụt khịt, nghiêng tai về tiếng khách lạ:" Ai nhỉ....ông khách dưới NINH GIANG?"
Ông lão cười rộ :"Chịu thầy nhớ dai! Văn Giảng đây
A ! Cụ Đề đã tìm thấy con gái ? Đến thưởng đệ phải không?
Ông lão tủm tỉm cười xua tay ra dấu cho thiếu nữ đừng lên tiếng rồi nói: "Đến trách thầy, chứ thưởng gì. Con gái đã thấy đâu. Năm đó, thầy đoán trong 20 năm nay đã 21, 22 năm rồi, vẫn tuyệt vô âm tín. Lão nay đã 74 biết sống đến bao giờ mới gặp con?"
Thầy Lợn hoài nghi, chau mà : "Nếu quả vậy, tôi coi lại cho cụ một quẻ xem sao"
Ông lão gật đầu, lấy trong hầu bao đồng ván 2 cắc bạc đặt vào đĩa. Thầy bói khấn, gieo tiền, ngồi im bấm quẻ rồi lắc đầu:" có lẽ cụ muốn thử tôi, chứ quẻ này “Úp cối" là cụ gặp con rồi"
Ông Lợn lại khảo lại số tử vi ông lão rồi lẩm bẩm nói 1 mình: "Quái thật! số này năm nay không tháng 3 thì tháng 7 cha con phải đoàn tụ, sao nay sang tháng chạp mà vẫn chưa ?"
Một chuỗi cười dòn vang lên, ông lão ôm chầm lấy vai thầy bói cười :" Xin chịu thầy, thần bốc TRẦN ĐOÀN tái sinh! Bữa nay cha con lão đến tạ thầy đây"
[B]Hạn Địa Kiếp
Chúa Tiên Hàng Bạc mở ví lấy xấp bạc 10 đồng đưa cho cha...Sau khi trao số bạc vào tay ông Lợn, ông lão hỏi nhỏ:" Năm xưa, thầy đoán con tôi đáo hạn địa kiếp hết của như THẠCH SÙNG, vậy hạn đó năm nào....và có cách nào cho qua khỏi được chăng?"
Thầy bói trầm ngâm giây lát đáp: " Hạn này còn lâu, hơn giáp nữa, vào năm ẤT MÙI ( 1956) nhưng có thể hoá giải được phần nào nếu đương số tu nhân tích đức, tránh sát giới, của cải sẽ bị tán phát 1 nửa, còn lại 1 nửa không đến nỗi trắng tay hết sạch"
Lời thầy Lợn làm cô bé Tý biến sắc, ông lão khuyên con đừng đi xe hơi, lo cán chết người, vật sẽ mang tội. Khi về tới HN, nghe lời thầy bói, cô vội bán lại chiếc Donnet Zedel mới cho chủ hãng Aviat, sắm 1 xe kéo lộng lẫy, đẹp nhất HN do 1 phu xe vận đồ trắng, nón trắng, quần xà cạp trắng " hách " nhất cố đô, kéo đi đó đi đây trong thành phố, theo sau là 1 phu hầu ăn mặc đúng y, đóng vai vệ sĩ chạy bám đít bánh xe khiến khách qua đường đều chú ý.
[B]Cuộc tái ngộ ly kỳ sau 28 năm…
Kể từ 1910, Cô Bé Tý đã giầu có lớn, nhà cửa trang hoàng, trần thiết kế kiểu Đông Phương lộng lẫy như dinh phủ vương hầu đầy dẫy những bảo vật, đồ cổ Trung Hoa quý hiếm. Muốn dương danh khoe của Cô mở động cho dân chúng thong thả vào coi. Từ năm 1924, cửa mở cách một ngày một lần, nhưng từ 1930, nhà cầm quyền Pháp chỉ cho mở chủ nhật và ngày lễ. Người vào coi xếp hàng một nối đuôi trước cổng. Một hôm, có ông lão quê đến nhập bọn, lần bước sau toán người vào coi. Lối đi trong động hẹp ngang, đủ cho chuỗi người nối gót tiến lên vì 2 bên đều kê san sát tủ, xập, kỷ, án, bình phong chạm trổ, sơn thếp hoặc cẩn xà cừ, ghép ngọ ngà châu báu. Trên mặt thì bầy la liệt đồ cổ ngoạn bằng đồng thiếc, ngọ, ngà, hổ phách, san hô, bảo thạch, đồ sứ cổ Tàu từ đời Thanh đến Chu, tổng trị giá ngày đó đến nửa triệu bạc. Người vào coi – Dù sành điệu hay không – cứ chầm chậm bước một vừa đi vừa ngắm xem, không ai được xáp gần, sờ mó các đồ vật trưng bầy. Theo bén gót người phía trước, ông lão quê đang mải ngắm bộ bình đông bích đồ thứ 6 cánh cần ngọc vàng…bỗng la lên chu choa, nhăn nhó, thụp xuống ôm lấy chân làm cán ô cong kẹp nách ngoắc phải miệng một ang sứ cổ Khang Hi từ trên kỷ lộn rớt xuống bể tan tành (Ang sứ này nguyên của một đại tá Pháp dự trận Bát quốc dẹp Quyền Phi năm 1900, đột nhập Cấm Thành Bắc Kinh, đoạt được trong cung nội Mãn Thanh rồi sang tay Passignat mua được cho cô Bé Tý). Thì ra ông lão có mụn lở gót chân buộc thuốc sơ sài. Người đi sau, lúc cất bước, vô ý đá trúng phải, làm ông lão đau điếng, lóng cóng gây ra vụ bể. Ông lão run sợ, khóc lóc lạy van. Ai thấy cũng ái ngại, nhưng phải chờ Chúa Tiên về…Vì sợ trách nhiệm, viên quản gia quát tháo nhốt ông vào nhà cầu. Y trở ra xua hết người coi, đóng cửa lại rồi xuống nhà giật mình thấy cửa cầu tiêu mở, đẩy vô, không thấy ông lão. Hốt hoảng, quản gia làm um xùm, thúc gia nhân túa các ngả tìm kiếm. Ai vừa giải cứu ông lão? Gã phụ bếp giầu lòng thương, ghét quản gia phách lối, nhân lúc mọi người bận nhà trên, đã lén mở cửa nhà cầu, đưa ông thoát lối sau. Vì không thuộc phố phường Hà Nội, ông lão vừa đi vừa hỏi đường, loanh quanh đến Phố Mã Mây bỗng có tiếng thình thịch chạy sau lưng ông chưa kịp ngoái cổ thì bị gã quản gia túm tóc đánh…Người đi đường xô tới can ngăn. Gã quản gia kéo xềnh xệch lão về Hàng Bạc, hô gia nhân lấy dây trói, bỏ nằm cầu tiêu, khóa cửa lại. Ông lão tủi nhục nằm khó dấm dít đến trưa chiều, chẳng ai cho ăn uống: Mãi tối, bà Chúa đi dự đàn tứ phủ trên đền Đức Vua dốc Yên Ninh cùng 2 cô gái nuôi mới về. Cả nhà đổ ra đón, bưng các tháp quả phẩm lộc, đồ biếu vào. Quản gia trình Chúa Tiên vụ bể ang và thủ phạm, ông lão, vì trốn khỏi nhà đã bị bắt lại, nhốt trong buồng vệ sinh, chờ lệnh Bà Chúa. Nghe nói ông lão đau chân loạng quạng làm bể đồ, Chúa Tiên biểu cởi trói, dẫn lên vào phòng thay áo trở ra thấy ông lão mặt mày hốc hác bị quản gia bắt quì dưới đất, Chúa Tiên không nỡ, biểu đỡ dậy, lấy ghế cho ngồi, hỏi ăn uống gì chưa? Ông lão lắc đầu xin hớp nước đỡ khát. Bà Chúa sai người đưa xuống bếp cho ăn uống tử tế xong dẫn lên. Chúa Tiên ôn tồn hỏi sao đến coi lại không cẩn thận để ý làm bể bảo vật của Bà? Ông cụ mếu máo kể từ lúc nối gót người vào coi đến lúc thình lình bị đá vào mụn, đau quá luýnh quýnh cán dù móc phải ang rớt bể rồi bị giữ. Chúa Tiên vặn hỏi đã vậy, sao còn chạy trốn? Lão thưa:
-Không phải vậy. Lão không dám tự ý trốn đi mà…do một chú tử tế thương hại mở cửa nhà cầu dắt lão ra cổng sau, trỏ đường biểu trốn. Chẳng may phố xá không rành loanh quanh hỏi thăm ra tới bến, định đi Hưng Yên thăm con, đến gần Cột Đồng Hồ thì bị thầy quản gia túm đánh, lôi kéo về nhà, cột nhốt trong nhà xí!
Lai lịch ông lão quê
Chúa Tiên nghe sinh lòng bất nhẫn nói:
-Giờ lỡ đánh vỡ đồ quý của tôi thì phải đền!
Nước mắt chạy quanh, ông lão mếu máo chắp tay xá:
-Bẩm Bà Chúa, lão quê mùa nghèo khó, sống trơ trọi, không có tiền đền Bà Chúa
-Thế con cháu đâu mà lại sống trơ trọi?
-Lão có thằng lớn gần 50, mới đây cả vợ chồng đều bị chết bệnh thời khí. Chúng có 2 con: 1 đứa đi lính Đoan 8, 9 năm nay không thấy về; còn 1 đứa 17 ở đợ làng bên. Lão còn 1 gái nữa, lấy chồng hàng Huyện, đăng lính Khố Xanh vừa đổi sang Hưng Yên. Với lương cai Khố xanh, vợ chồng nó nuôi sao nổi 7, 8 đứa con, nói chi giúp đỡ cha già?
-Vậy, lão làm cách nào sống?
-Nhờ biết năm ba chữ thảo được lá đơn, bản văn tự (giao kèo mua bán vay mượn) làm sớ trạng cúng kiếng, ngoài ra hằng ngày và dịp Tết nhất, có người mướn viết châm, liễn đối trướng hiếu hỉ, nên cũng tạm sống qua ngày.
-Ngoài hai trai, gái đó, có còn con nào khác không?
Câu hỏi khiến ông lão bùi ngùi
-Bà Chúa hỏi thêm đau lòng. Lão lận đận vất vả, mới 40 đã gà trống nuôi 3 con
Chúa Tiên bỗng đanh nét mặt
-Ông lão nói có 2 con: 1 trai, 1 gái. Con Trai và dâu mới chết dịch; con gái lấy chồng khố xanh sao lại vừa biểu nuôi 3 con? Đứa thứ ba ở đâu?
-Dạ, đứa thứ 3, chẳng rõ nó ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nghĩ đến nó, lão cầm lòng không nổi. Nay thấy mặt nó một lần, lão nhắm mắt cũng thỏa lòng.
Chúa Tiên chớp chớp mắt nén xúc động hỏi:
-Đứa thứ 3 này trai hay gái?
-Bẩm, cháu gái.
Chúa Tiên hơi biến sắc, hỏi:
-Con gái nhỏ ở với ông Cụ, sao lại không biết nó ở đâu? Sống hay đã chết?
Ông lão tần ngần chưa kịp đáp, Chúa Tiên hỏi tiếp:
-Hay là nó bị mẹ mìn, kẻ nào bỏ bùa dỗ mang sang Tàu bán?
Ông lão lắc đầu:
-Không ai dụ dỗ mà tự nó ra đi
-Gì lạ vậy? Tự nó ra đi như người lớn? Quả là chuyện lạ, ít thấy!
Ông lão bèn kể đầu đuôi chuyện sai cái Tý Ba, gái út đem be ra đầu làng mua rượu chẳng may té, be bể, miểng đâm tét đùi rồi sợ đòn cha, không dám về, đi biệt tăm từ đó…nay đã tròn 28 năm.
Nghe đến đây, Chúa Tiên bèn khoác tay ra dấu cho kẻ ăn người làm, gia nhân trong phòng xuống nhà dưới để bà hỏi chuyện riêng ông lão. Khi ai nấy không còn trong phòng, Chúa Tiên mới khẽ hỏi ông lão danh tánh, quê quán nghề nghiệp? Ông nhất nhất trả lời, Bà Chúa không cầm được nước mắt ôm cha nức nở khó. Xiết bao mừng tủi, ông lão nghẹn ngào trách con bấy lâu giàu sang chẳng đoái hoài đến cha già, quê quán. Chúa Tiên nhận tội bất hiếu, trình bày không phải vì quên làng nước gia đình, mà do gặp lắm éo le, nghịch cảnh không cho nàng giữ tròn hiếu đạo: Khi bỏ nhà ra đi, gặp được vợ chồng công sứ dung dưỡng nuông chiều, lắm lúc nhớ cha, anh chị, nhưng đâu dễ mỗi chốc được về thăm. Vả lại hình ảnh cha nghiêm dữ đòn càng khiến nàng thêm e ngại. Đến khi bị bố nuôi khác máu tanh lòng làm điều ô nhục, nàng còn thấy phải xa cha hơn nữa vì lẽ không thể trở lại thôn làng trong cái vỏ nửa tây nửa ta chẳng giống ai trong làng. Nàng đành nhắm mắt đưa chân. Hà Nội như ánh đèn thu hút cánh thiêu thân, nàng bị cuộc sống lôi cuốn lên chốn phồn hoa cố đô. Thân gái bơ vơ giữa cảnh xô bồ đô hội, nàng phải từng phút vận dụng xảo năng để tranh sống, thăng hoa, nên không còn đầu óc nghĩ đến chuyện nào khác ngoài thực tại thử thời.
Chúa Tiên thú thật với cha là từ ngày tới cố đô 36 phố phường nàng không hề được ngủ trước nửa đêm, bận rộn tối ngày suốt 20 năm ròng rã. Lắm lúc muốn sai thuộc hạ hoặc đích thân về làng thăm cha, nhưng ý định chỉ thoáng qua rồi lại bỏ đó vì quá đa đoan công chuyện. Thấm thoát, ngày qua tháng lại đã gần 30 năm, nay cha con trùng phùng xum hợp. Nghe con nói xong ông lão gục gặc, tấm tắc khen với Chúa Tiên:
-Chịu Thầy bói Chợ Đường Cái đoán giỏi! Ông Lợn quyết đoán phải 20 năm xa cách cha con mới đoàn tụ. Tính đến hôm nay vừa tròn 27 năm II tháng. Bữa nào, cha con mình phải đến thưởng ông Thầy!
Liền đó, Chúa Tiên cho gọi toàn thể gia nhân, tôi tớ lên đứng đằng trước mặt, ra lệnh những ai đã có thái độ vô lễ, tàn nhẫn với cha già phải quì xuống tạ tội lễ sống 2 lạy còn người khác thì 2 vái sau khi tuyên bố cho biết đó là cha đẻ xa cách 28 năm mới gặp lại. Bà thuật cho nghe trường hợp Bà nhỏ 12, 13 đã phải lìa xa gia cảnh. Định mệnh đã an bài sự kiện tương phản giữa việc thoát ly và đoàn tụ của Chúa Tiên: Xưa thì con đánh vỡ bỏ cha nay thì “cha làm bể ang cha mới gặp con”
[B]Cuộc đời Chúa Tiên trên báo Pháp
Giữa bầu không khí hoan hỉ bỗng có tiếng chuông reo ngoài cửa. Viên quản gia chạy ra, trở vào cho biết quan tây Chủ báo Phố Hàng Trống đến. Một thoáng do dự Chúa Tiên ra hiệu cho vô…Thấy ông lão quê mùa lạ hoắc ngồi bên Chúa Tiên, Chủ báo Henri de Massias hôn tay nàng vừa ngó ông lão. Hiểu ý, Chúa Tiên giới thiệu cha với người tình lớn rồi vui miệng kể giai thoại vừa xảy ra. MASSIAS, lúc đó đang sưu tập các dữ kiện để viết về cuộc đời li kì CHÚA TIÊN đăng “phơi-tông” trên báo AVENIR DU TONKIN dưới nhan đề :" La vie merveilleuse de Betty la Tonkinoise". Độc giả HN, cả ta lẫn tây, đều hiểu BETTY là tên ĂNGLÊ đặt cho cô BÉ TÝ HÀNG BẠC. Trên nhật báo “Annam Nouveau” của Nguyễn Văn Vĩnh, nhân sĩ chủ trương thuyết trực tri ngày đó, có bài châm biếm Chủ báo Avenir là mỏ rao hàng (crieur public) cho Chúa Tiên để được Chúa cho tha hồ “ra vào động Chúa”. Cũng trên báo này, binh bút Trần Văn Tùng còn ví De Massias là họ Mã của Tú Bà đang muốn đánh cả cụm “rinh” Aline (tức Cô Liên, con nuôi lai đẹp, tay hòm chìa khóa Chúa Tiên). Trong các nhân tình cô bé Tý, không ai biiết rõ, viết nhiều về cuộc đời cô bằng De Massias. Có lẽ do đó, nàng cưng nhất chàng DON JUAN đĩ điếm này. Massias cũng như hầu hết các nhân tình mết CHÚA TIÊN không phải chỉ vì nàng đa tình, da thịt thơm tho hấp dẫn mà còn vì nàng thông minh và linh mẫn như hồ li, khiến chồng và tình nhân nhiều phen lúng túng, bối rối trước những câu hỏi hóc búa của nàng mặc dù họ học cao, còn nàng gần như thất học. Về điểm thông minh và linh mẫn này, DE MASSSIAS – tức Quan Năm Douguet, nhân tình Betty trong truyện “Đời ly kỳ của Betty - Cô gái Bắc” có kể về nàng như sau:
BETTY là cô gái nhà quê, được ba má nuôi là vợ chồng công sứ HƯNG YÊN cho học tiếng PHÁP truyền khẩu, thực hành ngay trong gia đình nên 5,6 năm sau đã nói thông PHÁP NGỮ. Cái giá trị ăn khách của BETTY ở chổ đó. Các quan thầy coi nàng như con chim lạ miền Bắc vì hồi đó hiếm có gái AN NAM nào thạo tiếng Bắc như nàng. Phải nói là họ bị BETTY chinh phục hơn là họ chinh phục BETTY. Không những này trẻ đẹp, sạch, thơm hơn người nữ Âu, nàng còn khéo o bế, chiều chuộng nên không người tình nào thất vọng vì nàng.
Tuy nhiên, BETTY cũng rất khó tánh, cái khó tánh tạo ra cái oai của nàng như oai của Josephine với Nã Phá Luân khiến đàn ông quý nể. Lắm người có cảm tưởng Betty là mụ phù thủy hay nhà linh thị. Một lần, sau tiệc sinh nhật vợ bạn thân, tôi trở về nhà Betty. Hôn tôi xong, nàng nheo mắt, trỏ vào mặt tôi nói rằng tôi vừa đi ăn tiệc về và ăn hơi nhiều. Tôi ngạc nhiên hỏi sao biết? Nàng đáp tôi ăn đồ nguội và bánh thịt (sand wiches) nhiều hơn bánh ngọt. Tôi sửng sốt tròn mắt trước câu nói trúng phóc của Betty. Hỏi làm cách nào biết rõ vậy? Nàng tủm tỉm trả lời là có mắt thần thấy rõ mọi vật ở xa. Lại một lần đến, chơi nhà d’Apremont – tức de Monpezat – nằm chuyện gẫu, tôi có hút 5 điếu á phiện. Vì là thuốc thượng hảo hạng Besesnares rất thơm, tôi đã cẩn thận xúc miệng rất kỹ, tợp ly nhỏ Cointreau và ngậm điếu xì gà trước khi chia tay, đến nhà Betty. Tới nơi, tôi hôn nàng. Người đẹp bỗng nheo mặt, ngó tôi không chớp. Làm bộ không lưu ý, tôi bồng nàng, đặt xuống divan… Betty đẩy tôi ra: Không! Anh sắp làm tôi mệt. Để mai, bữa nay tôi không khỏe! Tôi chưng hửng trước phản ứng bất ngờ này. Nàng nói tiếp: Đi hút về mà hành xác người ta! Tôi vội chối và giơ tay thề. Betty nhếch cười: Anh quên tôi có mắt thần sao? Tôi đâu tin lời thề anh bằng tin râu tóc anh? Câu trả lời khó hiểu làm tôi thắc mắc, hỏi lại nàng làm thinh. Tôi đến d’Apremont, kể hắn nghe chuyện này. Anh bạn chủ ngựa cười: “Con nhỏ già dặn kinh nghiệm, đánh hơi tài lắm” Rồi hắn giải thích là Betty thính mũi, ngửi thấy khói thơm dặt mùi á phiện còn phảng phất quyến vào râu tóc mà biết, chứ không phải có mắt thần, linh thị gì. Xúc miệng uống rượu hút xì gà chưa đủ, phải rửa mặt gội đầu xà bông mới đánh bay được mùi thuốc. Hồi làm Quân Trấn Trưởng sống độc thân ở Hà Nội, tôi (Lời: Quan Năm Douguet tức Massias) có hẹn Betty mỗi tuần đến Quân Trấn một lần nếu quá 17 giờ thứ bẩy không thấy tôi tới nàng.
Rồi một thứ Bẩy, đang ngủ trưa, có một bạn gái thân, chồng làm Phó Công sứ một tỉnh duyên hải, lần đầu lên thăm tôi tại Quân Trấn. Trong tình cũ nghĩa xưa, nàng vui với tôi suốt buổi trưa đến gần 16 giờ mới chia tay. Hơn giờ sau, Betty đến, vào cổng bên hông lúc tôi vừa xuống văn phòng sau khi đã cẩn thận sai lính làm lại buồn, xóa hết dấu vết cuộc hợp hoan vừa qua. Một mình trong buồng, Betty để mắt quan sát, hít hà các gối đệm rồi bấm chuông… Tôi vừa lên đến cửa, nàng ôm chầm lấy hôn rồi phanh áo tôi, đưa mũi đánh hơi, trên da mặt vai, ngực tôi một lúc, vùng văng xô tôi ra, giật cây dù để trên bàn, bước mau ra cửa. Tôi cản giữ lại, nàng gỡ tay tôi, nói:
-Anh quên là tôi không muốn làm người thứ 2 trong cùng một ngày của anh? Khỏi hỏi ai, tôi cũng thừa biết anh vừa có một đàn bà trong vòng tay.
Dứt lời, nàng dời phòng, hẹn hôm sau tới. Thái độ khó tánh, cửa quyền này (fierté des manieres) tuy không đẹp, nhưng các nhân tình vẫn khoái BETTY, có lẽ vì họ thấy ít có me tây AN NAM nào giống nàng và do đó rất quí nể, không dám coi thường nàng như các me khác. Riêng tôi còn khoái Betty ở chỗ nàng hay nêu lên những vấn nạn từng khiến nhiều người – trong số có tôi – từng bí khó trả lời. Tôi có tật đêm mưa, bằng mọi cách, phải tìm đến với nàng. Vài ba lần như vậy, nàng thấy bị làm phiền nhiễu vì tăm tối mưa gió, đầu ráo áo ướt, cửa mở đóng làm rộn lối xóm nên một đêm, nàng biểu tôi sẽ không tiếp lần sau, nếu không giải thích tại sao lại khoái đến với nàng đêm mưa? Lúng túng, tôi đành trả lời khoái đêm mưa tìm đến, chứ không hiểu tại sao? Betty vặn hỏi sao lại khoái như vậy? Bất cứ hành động nào cũng có lý do như muốn ăn uống là vì đói, khát. Việc mò mẫm đêm mưa sấm chớp ầm ầm không thể không có những lý do sâu sắc ngoài động cơ sinh lý thúc đẩy? Rồi nàng cười nói tiếp không hiểu tại sao đàn ông khoái đến với đàn bà những đêm mưa? Nàng thấy đàn ông Đông hay Tây cùng khoái như vậy, và đã hỏi nhiều người già lẫn trẻ, hầu hết là các quan Tây đều không giải tỏa nổi thắc mắc của nàng. Do đó, Betty đã quyết định từ nay không tiếp ban đêm mưa chừng nào chưa được giải thích rõ về điểm này.
Một người tình cũ của Betty trước tôi là Đại tá M, có thuật lại câu chuyện về bộ tóc dài dậm cảu Betty. M mỗi lần nằm bên nàng đều yêu cầu nàng bọc hay quấn tóc, đừng bỏ xóa vì anh ta có tật ngủ say tay quờ quạng, hễ vướng vít phải tóc dài là thức tỉnh lập tức. Betty không chịu, viện lẽ, nếu quấn lại không ngủ được như bị ai nắm đầu. Vậy chỉ có cách hai người ngủ riêng là tốt. Nhưng M không muốn vậy. Sau nhiều lần yêu cầu nàng chịu nhượng bộ với điều kiện M giải thích cho nàng hiểu công dụng của tóc trên đầu cùng những lông khác như ở nách? Tại sao nách có lông dài? Tại sao nhỏ không có, lớn mới mọc? Để làm gì?
Tất nhiên, cũng như tôi M chịu thua không trả lời được câu nào.[/B][/B][/B][/B][/B][/I][/B]
Linh Xuyên
[B]Số Bé phải xa cha 28 năm – Suốt thời gian này, sao Bé không về làng thăm cha? Trường hợp ly kỳ Bé Tái ngộ cha – Tình cờ định mệnh giữa vụ thoát ly và đoàn tụ của Bé – Những “tài ngoại” của Bé dưới ngòi viết chủ báo “Avenir du Tonkin”
[I](Đoạn tiếp của câu chuyện kể đời sống bà Bé Tý hàng Bạc Hà Nội)
Thầy bói Lợn
Từ ngày bé đi biệt khỏi làng, thầy ĐỀ VĂN GIẢNG nhớ con hoài. Bảy năm sau, nhân đi dự đám tang người anh họ ở làng BẦN YÊN NHÂN, thầy đề nghe danh thầy bói LỢN ngày đó, chừng 30 tuổi đã nổi tiếng coi hay tại chợ ĐƯỜNG CÁI. Vì bệnh trái trời nặng, lòa hai mắt , mặt rỗ, thầy bói khụt khịt mũi như lợn nên có hỗn danh này.
Thầy Đề đặt tiền coi quẻ tìm con thất tung, Thầy Lợn gieo quẻ xong, quyết ngay là lúc này chớ đi tìm kiếm vô ích, mòn giầy dép cũng không thấy, dù tình cờ qua cửa nhà con hay đi ngang mặt con giữa đường cũng không thể gặp nhau.
Thầy Đề hỏi:"tại sao?". Thầy nói Lợn đáp:" số mệnh nó khiến xui như vậy....vì cha con phải cách xa nhau 28 năm"
Thầy Đề lại hỏi:" có hi vọng tìm thấy sớm hơn hoặc tự nó nhớ gốc, nhớ cha quay về?". Thầy Lợn lắc đầu rồi hỏi về ngày sinh tháng đẻ của Bé, lâm râm bấn tử vi, cho hay là ít cũng phải 20 năm. Cha con chia lìa nhau thì cũng sẽ bất ngờ đoàn tụ thật li kì hi hữu.
Thầy Đề lại hỏi:" nó đến nay đã 18, 19 tuổi chẳng biết trôi dạt nơi đâu? Có gặp chốn lương thiện tử tế không?"
[B]Đa nhân đa duyên
Thầy Lợn khụt khịt cười đáp:" nói cho ông anh mừng con nhỏ này làm lớn đến nơi. Số nó thật đáo để. Có nó ra đời thì không cha mẹ, hoặc phải ly cách cha mẹ. Số nó mệnh VCD, lập tại Tí, lại đủ Khôi Việt , Tả hữu, thêm Quyền Lộc, Xương Khúc chiếu lại là nó thừa tài làm nên danh giá"
Thầy Lợn khựng lại một lúc rồi tiếp" hiềm nỗi con nhỏ đủ bộ Tham Diêu, Mộc Cái, Hồng đào, thêm Phượng Long đối chiếu Khốc Hư thì hơi....đa đa nhân duyên đấy. Giá mà số này có Tử Phủ nhập miếu ở hạn thì chẳng khác số bà Chúa CHÈ thuở trước. Dầu chẳng được vậy, đây cũng là số cận quí, giàu sang lẫy lừng 1 thời"
Thầy Đề lại hỏi:"Nếu lẫy lừng 1 thời rồi lụn bại thì hi vọng gì?"
Thầy Bói lắc đầu đáp: "Số bất cứ ai cũng vậy chỉ lẫy lừng 1 thời, dài hay ngắn, như hoa chỉ nở 1 lần rồi tàn sớm hay muộn. Số con nhỏ này đáo hạn ĐỊA KIẾP có thể sẽ hết của như THẠCH SÙNG nếu không làm điều phúc đức. Nhưng ngày đó cũng còn lâu khi con nhỏ tuổi về chiều và ông anh lúc đó cũng đã được nó đền đáp báo hiếu đầy đủ.
Thật ra, thầy Đề, lúc đó, chẳng mấy tin tưởng lời thầy bói. Chính cả thầy Lợn cũng không thể ngờ 20 năm sau thầy 49, một sáng kia, cũng buổi chợ đông như bữa đó, có một xe hơi lộng lẫy từ phía Hà Nội sang đậu xịch bên lộ, bước xuống một ông lão vận đồ lụa bạch, đội nón lông ngan đen chóp bạc, theo sau là một thiếu phụ sang trọng len lách qua đám đông đến quán thầy bói. Ông lão ngồi xuống đầu ván, cất tiếng hề hề cười.
[B]Nhớ giai
Thầy Lợn ngẩng mặt, lẩm bẩm: "Quái! Giọng ai nghe quen quen....nhưng đã lâu không tới coi"
Ông lão khà khà cười:" phải, 20 năm qua mới đến thầy đây!"
Ông Lợn khụt khịt, nghiêng tai về tiếng khách lạ:" Ai nhỉ....ông khách dưới NINH GIANG?"
Ông lão cười rộ :"Chịu thầy nhớ dai! Văn Giảng đây
A ! Cụ Đề đã tìm thấy con gái ? Đến thưởng đệ phải không?
Ông lão tủm tỉm cười xua tay ra dấu cho thiếu nữ đừng lên tiếng rồi nói: "Đến trách thầy, chứ thưởng gì. Con gái đã thấy đâu. Năm đó, thầy đoán trong 20 năm nay đã 21, 22 năm rồi, vẫn tuyệt vô âm tín. Lão nay đã 74 biết sống đến bao giờ mới gặp con?"
Thầy Lợn hoài nghi, chau mà : "Nếu quả vậy, tôi coi lại cho cụ một quẻ xem sao"
Ông lão gật đầu, lấy trong hầu bao đồng ván 2 cắc bạc đặt vào đĩa. Thầy bói khấn, gieo tiền, ngồi im bấm quẻ rồi lắc đầu:" có lẽ cụ muốn thử tôi, chứ quẻ này “Úp cối" là cụ gặp con rồi"
Ông Lợn lại khảo lại số tử vi ông lão rồi lẩm bẩm nói 1 mình: "Quái thật! số này năm nay không tháng 3 thì tháng 7 cha con phải đoàn tụ, sao nay sang tháng chạp mà vẫn chưa ?"
Một chuỗi cười dòn vang lên, ông lão ôm chầm lấy vai thầy bói cười :" Xin chịu thầy, thần bốc TRẦN ĐOÀN tái sinh! Bữa nay cha con lão đến tạ thầy đây"
[B]Hạn Địa Kiếp
Chúa Tiên Hàng Bạc mở ví lấy xấp bạc 10 đồng đưa cho cha...Sau khi trao số bạc vào tay ông Lợn, ông lão hỏi nhỏ:" Năm xưa, thầy đoán con tôi đáo hạn địa kiếp hết của như THẠCH SÙNG, vậy hạn đó năm nào....và có cách nào cho qua khỏi được chăng?"
Thầy bói trầm ngâm giây lát đáp: " Hạn này còn lâu, hơn giáp nữa, vào năm ẤT MÙI ( 1956) nhưng có thể hoá giải được phần nào nếu đương số tu nhân tích đức, tránh sát giới, của cải sẽ bị tán phát 1 nửa, còn lại 1 nửa không đến nỗi trắng tay hết sạch"
Lời thầy Lợn làm cô bé Tý biến sắc, ông lão khuyên con đừng đi xe hơi, lo cán chết người, vật sẽ mang tội. Khi về tới HN, nghe lời thầy bói, cô vội bán lại chiếc Donnet Zedel mới cho chủ hãng Aviat, sắm 1 xe kéo lộng lẫy, đẹp nhất HN do 1 phu xe vận đồ trắng, nón trắng, quần xà cạp trắng " hách " nhất cố đô, kéo đi đó đi đây trong thành phố, theo sau là 1 phu hầu ăn mặc đúng y, đóng vai vệ sĩ chạy bám đít bánh xe khiến khách qua đường đều chú ý.
[B]Cuộc tái ngộ ly kỳ sau 28 năm…
Kể từ 1910, Cô Bé Tý đã giầu có lớn, nhà cửa trang hoàng, trần thiết kế kiểu Đông Phương lộng lẫy như dinh phủ vương hầu đầy dẫy những bảo vật, đồ cổ Trung Hoa quý hiếm. Muốn dương danh khoe của Cô mở động cho dân chúng thong thả vào coi. Từ năm 1924, cửa mở cách một ngày một lần, nhưng từ 1930, nhà cầm quyền Pháp chỉ cho mở chủ nhật và ngày lễ. Người vào coi xếp hàng một nối đuôi trước cổng. Một hôm, có ông lão quê đến nhập bọn, lần bước sau toán người vào coi. Lối đi trong động hẹp ngang, đủ cho chuỗi người nối gót tiến lên vì 2 bên đều kê san sát tủ, xập, kỷ, án, bình phong chạm trổ, sơn thếp hoặc cẩn xà cừ, ghép ngọ ngà châu báu. Trên mặt thì bầy la liệt đồ cổ ngoạn bằng đồng thiếc, ngọ, ngà, hổ phách, san hô, bảo thạch, đồ sứ cổ Tàu từ đời Thanh đến Chu, tổng trị giá ngày đó đến nửa triệu bạc. Người vào coi – Dù sành điệu hay không – cứ chầm chậm bước một vừa đi vừa ngắm xem, không ai được xáp gần, sờ mó các đồ vật trưng bầy. Theo bén gót người phía trước, ông lão quê đang mải ngắm bộ bình đông bích đồ thứ 6 cánh cần ngọc vàng…bỗng la lên chu choa, nhăn nhó, thụp xuống ôm lấy chân làm cán ô cong kẹp nách ngoắc phải miệng một ang sứ cổ Khang Hi từ trên kỷ lộn rớt xuống bể tan tành (Ang sứ này nguyên của một đại tá Pháp dự trận Bát quốc dẹp Quyền Phi năm 1900, đột nhập Cấm Thành Bắc Kinh, đoạt được trong cung nội Mãn Thanh rồi sang tay Passignat mua được cho cô Bé Tý). Thì ra ông lão có mụn lở gót chân buộc thuốc sơ sài. Người đi sau, lúc cất bước, vô ý đá trúng phải, làm ông lão đau điếng, lóng cóng gây ra vụ bể. Ông lão run sợ, khóc lóc lạy van. Ai thấy cũng ái ngại, nhưng phải chờ Chúa Tiên về…Vì sợ trách nhiệm, viên quản gia quát tháo nhốt ông vào nhà cầu. Y trở ra xua hết người coi, đóng cửa lại rồi xuống nhà giật mình thấy cửa cầu tiêu mở, đẩy vô, không thấy ông lão. Hốt hoảng, quản gia làm um xùm, thúc gia nhân túa các ngả tìm kiếm. Ai vừa giải cứu ông lão? Gã phụ bếp giầu lòng thương, ghét quản gia phách lối, nhân lúc mọi người bận nhà trên, đã lén mở cửa nhà cầu, đưa ông thoát lối sau. Vì không thuộc phố phường Hà Nội, ông lão vừa đi vừa hỏi đường, loanh quanh đến Phố Mã Mây bỗng có tiếng thình thịch chạy sau lưng ông chưa kịp ngoái cổ thì bị gã quản gia túm tóc đánh…Người đi đường xô tới can ngăn. Gã quản gia kéo xềnh xệch lão về Hàng Bạc, hô gia nhân lấy dây trói, bỏ nằm cầu tiêu, khóa cửa lại. Ông lão tủi nhục nằm khó dấm dít đến trưa chiều, chẳng ai cho ăn uống: Mãi tối, bà Chúa đi dự đàn tứ phủ trên đền Đức Vua dốc Yên Ninh cùng 2 cô gái nuôi mới về. Cả nhà đổ ra đón, bưng các tháp quả phẩm lộc, đồ biếu vào. Quản gia trình Chúa Tiên vụ bể ang và thủ phạm, ông lão, vì trốn khỏi nhà đã bị bắt lại, nhốt trong buồng vệ sinh, chờ lệnh Bà Chúa. Nghe nói ông lão đau chân loạng quạng làm bể đồ, Chúa Tiên biểu cởi trói, dẫn lên vào phòng thay áo trở ra thấy ông lão mặt mày hốc hác bị quản gia bắt quì dưới đất, Chúa Tiên không nỡ, biểu đỡ dậy, lấy ghế cho ngồi, hỏi ăn uống gì chưa? Ông lão lắc đầu xin hớp nước đỡ khát. Bà Chúa sai người đưa xuống bếp cho ăn uống tử tế xong dẫn lên. Chúa Tiên ôn tồn hỏi sao đến coi lại không cẩn thận để ý làm bể bảo vật của Bà? Ông cụ mếu máo kể từ lúc nối gót người vào coi đến lúc thình lình bị đá vào mụn, đau quá luýnh quýnh cán dù móc phải ang rớt bể rồi bị giữ. Chúa Tiên vặn hỏi đã vậy, sao còn chạy trốn? Lão thưa:
-Không phải vậy. Lão không dám tự ý trốn đi mà…do một chú tử tế thương hại mở cửa nhà cầu dắt lão ra cổng sau, trỏ đường biểu trốn. Chẳng may phố xá không rành loanh quanh hỏi thăm ra tới bến, định đi Hưng Yên thăm con, đến gần Cột Đồng Hồ thì bị thầy quản gia túm đánh, lôi kéo về nhà, cột nhốt trong nhà xí!
Lai lịch ông lão quê
Chúa Tiên nghe sinh lòng bất nhẫn nói:
-Giờ lỡ đánh vỡ đồ quý của tôi thì phải đền!
Nước mắt chạy quanh, ông lão mếu máo chắp tay xá:
-Bẩm Bà Chúa, lão quê mùa nghèo khó, sống trơ trọi, không có tiền đền Bà Chúa
-Thế con cháu đâu mà lại sống trơ trọi?
-Lão có thằng lớn gần 50, mới đây cả vợ chồng đều bị chết bệnh thời khí. Chúng có 2 con: 1 đứa đi lính Đoan 8, 9 năm nay không thấy về; còn 1 đứa 17 ở đợ làng bên. Lão còn 1 gái nữa, lấy chồng hàng Huyện, đăng lính Khố Xanh vừa đổi sang Hưng Yên. Với lương cai Khố xanh, vợ chồng nó nuôi sao nổi 7, 8 đứa con, nói chi giúp đỡ cha già?
-Vậy, lão làm cách nào sống?
-Nhờ biết năm ba chữ thảo được lá đơn, bản văn tự (giao kèo mua bán vay mượn) làm sớ trạng cúng kiếng, ngoài ra hằng ngày và dịp Tết nhất, có người mướn viết châm, liễn đối trướng hiếu hỉ, nên cũng tạm sống qua ngày.
-Ngoài hai trai, gái đó, có còn con nào khác không?
Câu hỏi khiến ông lão bùi ngùi
-Bà Chúa hỏi thêm đau lòng. Lão lận đận vất vả, mới 40 đã gà trống nuôi 3 con
Chúa Tiên bỗng đanh nét mặt
-Ông lão nói có 2 con: 1 trai, 1 gái. Con Trai và dâu mới chết dịch; con gái lấy chồng khố xanh sao lại vừa biểu nuôi 3 con? Đứa thứ ba ở đâu?
-Dạ, đứa thứ 3, chẳng rõ nó ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nghĩ đến nó, lão cầm lòng không nổi. Nay thấy mặt nó một lần, lão nhắm mắt cũng thỏa lòng.
Chúa Tiên chớp chớp mắt nén xúc động hỏi:
-Đứa thứ 3 này trai hay gái?
-Bẩm, cháu gái.
Chúa Tiên hơi biến sắc, hỏi:
-Con gái nhỏ ở với ông Cụ, sao lại không biết nó ở đâu? Sống hay đã chết?
Ông lão tần ngần chưa kịp đáp, Chúa Tiên hỏi tiếp:
-Hay là nó bị mẹ mìn, kẻ nào bỏ bùa dỗ mang sang Tàu bán?
Ông lão lắc đầu:
-Không ai dụ dỗ mà tự nó ra đi
-Gì lạ vậy? Tự nó ra đi như người lớn? Quả là chuyện lạ, ít thấy!
Ông lão bèn kể đầu đuôi chuyện sai cái Tý Ba, gái út đem be ra đầu làng mua rượu chẳng may té, be bể, miểng đâm tét đùi rồi sợ đòn cha, không dám về, đi biệt tăm từ đó…nay đã tròn 28 năm.
Nghe đến đây, Chúa Tiên bèn khoác tay ra dấu cho kẻ ăn người làm, gia nhân trong phòng xuống nhà dưới để bà hỏi chuyện riêng ông lão. Khi ai nấy không còn trong phòng, Chúa Tiên mới khẽ hỏi ông lão danh tánh, quê quán nghề nghiệp? Ông nhất nhất trả lời, Bà Chúa không cầm được nước mắt ôm cha nức nở khó. Xiết bao mừng tủi, ông lão nghẹn ngào trách con bấy lâu giàu sang chẳng đoái hoài đến cha già, quê quán. Chúa Tiên nhận tội bất hiếu, trình bày không phải vì quên làng nước gia đình, mà do gặp lắm éo le, nghịch cảnh không cho nàng giữ tròn hiếu đạo: Khi bỏ nhà ra đi, gặp được vợ chồng công sứ dung dưỡng nuông chiều, lắm lúc nhớ cha, anh chị, nhưng đâu dễ mỗi chốc được về thăm. Vả lại hình ảnh cha nghiêm dữ đòn càng khiến nàng thêm e ngại. Đến khi bị bố nuôi khác máu tanh lòng làm điều ô nhục, nàng còn thấy phải xa cha hơn nữa vì lẽ không thể trở lại thôn làng trong cái vỏ nửa tây nửa ta chẳng giống ai trong làng. Nàng đành nhắm mắt đưa chân. Hà Nội như ánh đèn thu hút cánh thiêu thân, nàng bị cuộc sống lôi cuốn lên chốn phồn hoa cố đô. Thân gái bơ vơ giữa cảnh xô bồ đô hội, nàng phải từng phút vận dụng xảo năng để tranh sống, thăng hoa, nên không còn đầu óc nghĩ đến chuyện nào khác ngoài thực tại thử thời.
Chúa Tiên thú thật với cha là từ ngày tới cố đô 36 phố phường nàng không hề được ngủ trước nửa đêm, bận rộn tối ngày suốt 20 năm ròng rã. Lắm lúc muốn sai thuộc hạ hoặc đích thân về làng thăm cha, nhưng ý định chỉ thoáng qua rồi lại bỏ đó vì quá đa đoan công chuyện. Thấm thoát, ngày qua tháng lại đã gần 30 năm, nay cha con trùng phùng xum hợp. Nghe con nói xong ông lão gục gặc, tấm tắc khen với Chúa Tiên:
-Chịu Thầy bói Chợ Đường Cái đoán giỏi! Ông Lợn quyết đoán phải 20 năm xa cách cha con mới đoàn tụ. Tính đến hôm nay vừa tròn 27 năm II tháng. Bữa nào, cha con mình phải đến thưởng ông Thầy!
Liền đó, Chúa Tiên cho gọi toàn thể gia nhân, tôi tớ lên đứng đằng trước mặt, ra lệnh những ai đã có thái độ vô lễ, tàn nhẫn với cha già phải quì xuống tạ tội lễ sống 2 lạy còn người khác thì 2 vái sau khi tuyên bố cho biết đó là cha đẻ xa cách 28 năm mới gặp lại. Bà thuật cho nghe trường hợp Bà nhỏ 12, 13 đã phải lìa xa gia cảnh. Định mệnh đã an bài sự kiện tương phản giữa việc thoát ly và đoàn tụ của Chúa Tiên: Xưa thì con đánh vỡ bỏ cha nay thì “cha làm bể ang cha mới gặp con”
[B]Cuộc đời Chúa Tiên trên báo Pháp
Giữa bầu không khí hoan hỉ bỗng có tiếng chuông reo ngoài cửa. Viên quản gia chạy ra, trở vào cho biết quan tây Chủ báo Phố Hàng Trống đến. Một thoáng do dự Chúa Tiên ra hiệu cho vô…Thấy ông lão quê mùa lạ hoắc ngồi bên Chúa Tiên, Chủ báo Henri de Massias hôn tay nàng vừa ngó ông lão. Hiểu ý, Chúa Tiên giới thiệu cha với người tình lớn rồi vui miệng kể giai thoại vừa xảy ra. MASSIAS, lúc đó đang sưu tập các dữ kiện để viết về cuộc đời li kì CHÚA TIÊN đăng “phơi-tông” trên báo AVENIR DU TONKIN dưới nhan đề :" La vie merveilleuse de Betty la Tonkinoise". Độc giả HN, cả ta lẫn tây, đều hiểu BETTY là tên ĂNGLÊ đặt cho cô BÉ TÝ HÀNG BẠC. Trên nhật báo “Annam Nouveau” của Nguyễn Văn Vĩnh, nhân sĩ chủ trương thuyết trực tri ngày đó, có bài châm biếm Chủ báo Avenir là mỏ rao hàng (crieur public) cho Chúa Tiên để được Chúa cho tha hồ “ra vào động Chúa”. Cũng trên báo này, binh bút Trần Văn Tùng còn ví De Massias là họ Mã của Tú Bà đang muốn đánh cả cụm “rinh” Aline (tức Cô Liên, con nuôi lai đẹp, tay hòm chìa khóa Chúa Tiên). Trong các nhân tình cô bé Tý, không ai biiết rõ, viết nhiều về cuộc đời cô bằng De Massias. Có lẽ do đó, nàng cưng nhất chàng DON JUAN đĩ điếm này. Massias cũng như hầu hết các nhân tình mết CHÚA TIÊN không phải chỉ vì nàng đa tình, da thịt thơm tho hấp dẫn mà còn vì nàng thông minh và linh mẫn như hồ li, khiến chồng và tình nhân nhiều phen lúng túng, bối rối trước những câu hỏi hóc búa của nàng mặc dù họ học cao, còn nàng gần như thất học. Về điểm thông minh và linh mẫn này, DE MASSSIAS – tức Quan Năm Douguet, nhân tình Betty trong truyện “Đời ly kỳ của Betty - Cô gái Bắc” có kể về nàng như sau:
BETTY là cô gái nhà quê, được ba má nuôi là vợ chồng công sứ HƯNG YÊN cho học tiếng PHÁP truyền khẩu, thực hành ngay trong gia đình nên 5,6 năm sau đã nói thông PHÁP NGỮ. Cái giá trị ăn khách của BETTY ở chổ đó. Các quan thầy coi nàng như con chim lạ miền Bắc vì hồi đó hiếm có gái AN NAM nào thạo tiếng Bắc như nàng. Phải nói là họ bị BETTY chinh phục hơn là họ chinh phục BETTY. Không những này trẻ đẹp, sạch, thơm hơn người nữ Âu, nàng còn khéo o bế, chiều chuộng nên không người tình nào thất vọng vì nàng.
Tuy nhiên, BETTY cũng rất khó tánh, cái khó tánh tạo ra cái oai của nàng như oai của Josephine với Nã Phá Luân khiến đàn ông quý nể. Lắm người có cảm tưởng Betty là mụ phù thủy hay nhà linh thị. Một lần, sau tiệc sinh nhật vợ bạn thân, tôi trở về nhà Betty. Hôn tôi xong, nàng nheo mắt, trỏ vào mặt tôi nói rằng tôi vừa đi ăn tiệc về và ăn hơi nhiều. Tôi ngạc nhiên hỏi sao biết? Nàng đáp tôi ăn đồ nguội và bánh thịt (sand wiches) nhiều hơn bánh ngọt. Tôi sửng sốt tròn mắt trước câu nói trúng phóc của Betty. Hỏi làm cách nào biết rõ vậy? Nàng tủm tỉm trả lời là có mắt thần thấy rõ mọi vật ở xa. Lại một lần đến, chơi nhà d’Apremont – tức de Monpezat – nằm chuyện gẫu, tôi có hút 5 điếu á phiện. Vì là thuốc thượng hảo hạng Besesnares rất thơm, tôi đã cẩn thận xúc miệng rất kỹ, tợp ly nhỏ Cointreau và ngậm điếu xì gà trước khi chia tay, đến nhà Betty. Tới nơi, tôi hôn nàng. Người đẹp bỗng nheo mặt, ngó tôi không chớp. Làm bộ không lưu ý, tôi bồng nàng, đặt xuống divan… Betty đẩy tôi ra: Không! Anh sắp làm tôi mệt. Để mai, bữa nay tôi không khỏe! Tôi chưng hửng trước phản ứng bất ngờ này. Nàng nói tiếp: Đi hút về mà hành xác người ta! Tôi vội chối và giơ tay thề. Betty nhếch cười: Anh quên tôi có mắt thần sao? Tôi đâu tin lời thề anh bằng tin râu tóc anh? Câu trả lời khó hiểu làm tôi thắc mắc, hỏi lại nàng làm thinh. Tôi đến d’Apremont, kể hắn nghe chuyện này. Anh bạn chủ ngựa cười: “Con nhỏ già dặn kinh nghiệm, đánh hơi tài lắm” Rồi hắn giải thích là Betty thính mũi, ngửi thấy khói thơm dặt mùi á phiện còn phảng phất quyến vào râu tóc mà biết, chứ không phải có mắt thần, linh thị gì. Xúc miệng uống rượu hút xì gà chưa đủ, phải rửa mặt gội đầu xà bông mới đánh bay được mùi thuốc. Hồi làm Quân Trấn Trưởng sống độc thân ở Hà Nội, tôi (Lời: Quan Năm Douguet tức Massias) có hẹn Betty mỗi tuần đến Quân Trấn một lần nếu quá 17 giờ thứ bẩy không thấy tôi tới nàng.
Rồi một thứ Bẩy, đang ngủ trưa, có một bạn gái thân, chồng làm Phó Công sứ một tỉnh duyên hải, lần đầu lên thăm tôi tại Quân Trấn. Trong tình cũ nghĩa xưa, nàng vui với tôi suốt buổi trưa đến gần 16 giờ mới chia tay. Hơn giờ sau, Betty đến, vào cổng bên hông lúc tôi vừa xuống văn phòng sau khi đã cẩn thận sai lính làm lại buồn, xóa hết dấu vết cuộc hợp hoan vừa qua. Một mình trong buồng, Betty để mắt quan sát, hít hà các gối đệm rồi bấm chuông… Tôi vừa lên đến cửa, nàng ôm chầm lấy hôn rồi phanh áo tôi, đưa mũi đánh hơi, trên da mặt vai, ngực tôi một lúc, vùng văng xô tôi ra, giật cây dù để trên bàn, bước mau ra cửa. Tôi cản giữ lại, nàng gỡ tay tôi, nói:
-Anh quên là tôi không muốn làm người thứ 2 trong cùng một ngày của anh? Khỏi hỏi ai, tôi cũng thừa biết anh vừa có một đàn bà trong vòng tay.
Dứt lời, nàng dời phòng, hẹn hôm sau tới. Thái độ khó tánh, cửa quyền này (fierté des manieres) tuy không đẹp, nhưng các nhân tình vẫn khoái BETTY, có lẽ vì họ thấy ít có me tây AN NAM nào giống nàng và do đó rất quí nể, không dám coi thường nàng như các me khác. Riêng tôi còn khoái Betty ở chỗ nàng hay nêu lên những vấn nạn từng khiến nhiều người – trong số có tôi – từng bí khó trả lời. Tôi có tật đêm mưa, bằng mọi cách, phải tìm đến với nàng. Vài ba lần như vậy, nàng thấy bị làm phiền nhiễu vì tăm tối mưa gió, đầu ráo áo ướt, cửa mở đóng làm rộn lối xóm nên một đêm, nàng biểu tôi sẽ không tiếp lần sau, nếu không giải thích tại sao lại khoái đến với nàng đêm mưa? Lúng túng, tôi đành trả lời khoái đêm mưa tìm đến, chứ không hiểu tại sao? Betty vặn hỏi sao lại khoái như vậy? Bất cứ hành động nào cũng có lý do như muốn ăn uống là vì đói, khát. Việc mò mẫm đêm mưa sấm chớp ầm ầm không thể không có những lý do sâu sắc ngoài động cơ sinh lý thúc đẩy? Rồi nàng cười nói tiếp không hiểu tại sao đàn ông khoái đến với đàn bà những đêm mưa? Nàng thấy đàn ông Đông hay Tây cùng khoái như vậy, và đã hỏi nhiều người già lẫn trẻ, hầu hết là các quan Tây đều không giải tỏa nổi thắc mắc của nàng. Do đó, Betty đã quyết định từ nay không tiếp ban đêm mưa chừng nào chưa được giải thích rõ về điểm này.
Một người tình cũ của Betty trước tôi là Đại tá M, có thuật lại câu chuyện về bộ tóc dài dậm cảu Betty. M mỗi lần nằm bên nàng đều yêu cầu nàng bọc hay quấn tóc, đừng bỏ xóa vì anh ta có tật ngủ say tay quờ quạng, hễ vướng vít phải tóc dài là thức tỉnh lập tức. Betty không chịu, viện lẽ, nếu quấn lại không ngủ được như bị ai nắm đầu. Vậy chỉ có cách hai người ngủ riêng là tốt. Nhưng M không muốn vậy. Sau nhiều lần yêu cầu nàng chịu nhượng bộ với điều kiện M giải thích cho nàng hiểu công dụng của tóc trên đầu cùng những lông khác như ở nách? Tại sao nách có lông dài? Tại sao nhỏ không có, lớn mới mọc? Để làm gì?
Tất nhiên, cũng như tôi M chịu thua không trả lời được câu nào.[/B][/B][/B][/B][/B][/I][/B]
Nhất Kiếp Sinh Nhân
Vô Thường Huyễn Ảo
Bất Biến Tùy Duyên
Thỏa Trí Bồng Lai
Vô Thường Huyễn Ảo
Bất Biến Tùy Duyên
Thỏa Trí Bồng Lai
