Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng
#51
Nghiên cứu Tử vi
[B]KHOA TỬ VI “THẦN SẦU “ ĐỜI NHÀ TRẦN

· [B]Chuyện kể trong sách Đông A di sự
· [B]Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư đều là tay Tử vi giỏi
· [B]Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn được truyền khoa Tử vi
· [B]Truyện Đoàn Nhữ Hài và số mạng rất lạ.
· [B]Các phái tử vi ở VN ngày nay.
· [B]Các cao thủ tử vi: Nguyễn Mạnh Bảo, Song An Đỗ Văn Lưu, Nguyễn Phát Lộc, Hoàng Quân, Nguyễn Văn Y, Việt Viêm Tử, Vân Điền Thái Thứ Lang.

[B]Giáo sư Trần Quang Đông

[B]KHOA TỬ VI TẠI VIỆT NAM

Khoa Tử vi truyền sang VN vào năm Đinh Tỵ (1.257) niên hiệu Nguyên – Phong thứ 7 đời Trần. Quan nhà Tống không chịu lệ thuộc nhà Nguyên sang xin nội thuộc VN. Trong số này có Hoàng Bính mang 1200 người, tông thuộc xin theo vua Trần Thái Tôn. Hoàng Bính tiến cử con gái cho vua Trần, được phong là Huệ túc phu nhân. Hoàng Bính có mang theo hai bộ sách Tử vi rất quí giá, đó là bộ “Tử vi chính nghĩa” và bộ “Triệu Thị Minh thuyết Tử vi kinh”. Hoàng Bính truyền khoa Tử vi cho ba người: “Một là vua Trần Thái Tôn (như vậy vua Thái Tôn là con rể của Hoàng Bính) hai là Hưng Đạo Vương, ba là Huệ túc phu nhân. Nhưng trong đời Trần có rất nhiều nhà nghiên cứu Tử vi thành danh, hơn cả Hoàng Bính. Trong sách Đông A di sự kể lại những nhà nghiên cứu Tử vi đời Trần nổi tiếng là: Chiêu minh Vương Trần Quang Khải, Chiêu văn Vương Trần Nhật Duật, Hưng nhượng vương Trần Quốc Tảng (Xin đừng lầm với Hoài văn hầu Quốc Toản là người bóp bẹp quả cam), Nhân huệ vương Trần khánh Dư, và cháu nội Chiêu minh vương là Trần nguyên Đán. Các công trình nghiên cứu của họ Trần được chép thành bộ “Đông A di sự”. Đông A di sự là bộ sách chép tất cả những gì xẩy ra trong đời Trần, nhưng đến nay bị thất truyền, chỉ còn phần chép về Tử vi là còn lại, do con cháu nhà Trần lưu giữ (Chữ Đông với chữ A ghép thành chữ Trần).

Phần cuối cùng của sách có chép: Năm Ất Sửu, niên hiệu Xương phù thứ 9 (1386) quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán tính số Tử vi thấy Thái thượng Hoàng Nghệ Tôn có Vũ Phá thủ mệnh, coi người thân như cừu thù, coi kẻ ác như ruột gan chắc chắn sẽ nghe Lê Quý Ly mà giết vua Trần Đế Nghiễn, thấy Quí Ly có Tử Phá thủ mệnh tại Mùi, biết y sẽ cướp ngồi, và nhà Trần mất. Muốn bảo toàn lấy giòng giống, ông kết thông gia với Quí Ly, rồi bỏ quan về ở ẩn. Ông sáng tác rất nhiều thơ, chép thành tập. Con rể ông là Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại ông là Nguyễn Trãi, Nguyễn Trãi sưu tập thơ của ông, chú giải đặt tên là Băng hồ thi tập (Băng Hồ là tên hiệu của Trần Nguyên Đán). Bài tựa Nguyễn Trãi viết nhan đề là Băng Hồ di sự lục.

Công phu nghiên cứu Tử vi của nhà Trần được truyền qua Nguyễn Trãi. Một số con cháu nhà Trần khi thấy Lê Quý Ly cướp ngôi, mai danh ẩn tích đổi họ, sống trong dân gian, nhờ vậy bộ Đông A di sự còn được lưu truyền đến ngày nay.

Trong bộ Đong A di sự, ngoài việc chép công trình nghiên cứu Tử vi, còn chép rất nhiều lá số của các danh nhân đời Trần. Căn cứ vào đây ta có thể biết rõ ngày sanh tử của các vị này

[B]Chuyện Đoàn Nhữ Hài

Sau đây là một giai thoại về cuộc gặp gỡ giữa Đoàn Nhữ Hài và vua Trần Anh Tôn:

Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc Tử Giám. Vào niên hiệu Hưng Long thứ 7 đời Trần Anh Tôn (1299), tức năm Kỷ Sửu, Hài đúng 20 tuổi. Một hôm ra chùa Một Cột chơi, gặp thầy Tử vi. Hài xin xem giùm vận mạng.
Thầy hỏi :
- Cậu sinh năm nào?
- Tôi tuổi Kỷ Mão, tháng 9 ngày mồng 1, giờ mão
[/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B]Thầy bấm tay một lúc rồi nói :
-Mệnh cậu lập tại mùi, xương, khúc, kình miếu địa thủ mệnh. Lại được Nhật mão, Nguyệt tại hợi tịnh minh chiếu, thêm cách giáp Quang, Quý. Đây là cách của đại thần phò tá Đế Vương. Năm nay Đại hạn của cậu ớ Tị có hình, tang, cơ, mã được nguyệt chiếu. Tiểu hạn ở thân, ngoại triều có tham vũ, tướng, quyền,lộc,tả,hữu tất thành đại hỉ sự, đại hỉ sự sẽ đến một cách bất ngờ. Khi cậu bị ngựa đá hoặc cắn thì là khi công danh tới đấy.


Hải mừng lắm, về chăm chỉ học, không ngờ trong cuộc thi tuyển chọn thí sinh để năm Giáp Thìn (1304) thi Thái học sinh (Tiến sĩ) bài của Hài bị đánh trượt vì ngông nghênh quá. Hài tức lắm, ra chùa Một cột tìm thầy tử vi để đập tráp vì tội nói láo. Nhưng thầy tử vi phân trần:


- Tôi chỉ nói năm nay cậu có hỉ sự, tôi đâu có nói cậu thi đậu? Đây tôi cho cậu biết: ngày 13-6 này cậu sẽ gần Thiên Tử. Tôi chỉ xin cậu một điều là khi cậu thành danh rồi thì....


- Nếu đúng như lời thầy thì tôi sẵn sàng nghe lời dạy bảo


- Thế thì tốt quá. Ngày 13-6 này cậu còn hoạnh phát tài nữa. Vậy cậu phát bao nhiêu xin cho tôi một nửa. Sau này ở địa vị cực cao quý, cậu phải thương yêu muôn dân.

Hài đồng ý, về nhà. Đến đúng ngày 13- 6 không thấy gần vua như thầy Tử vi nói. Hài xách gậy đi tìm ông thầy đánh về tội nói láo. Trên đường đi, Hài bị một người cỡi ngựa đụng vào té văng dưới đất. Người đó vội xuống ngựa đỡ Hài dậy xin lỗi rối rít.


- Tôi đi vội quá lỡ đụng tiên sinh. Xin tiên sinh bỏ qua cho.


Hài nhìn người đó thấy mặc quần, áo lót đội mũ phía sau ra phía trước. Hài bên phải sang bên trái, coi vẻ hốt hoảng. Hài bực mình hỏi :
- Nhà ngươi đi đâu
- Tôi đi tìm cha tôi


Nguyên đó là nhà vua Trần Anh Tôn. Hôm đó vua uống rượu say mê mệt. Nhân tôn hoàng thượng bất thần về kinh, thấy con say, giận lắm để cây gậy thiên trượng lên mông nhà vua ngụ ý đánh đòn, rồi bảo các quan về Thiên Trường họp.


Lúc tỉnh rượu, Anh Tôn được cung nga, thái giám kể lại, sợ quá chụp mũ đội lên đầu. Trong lúc vội vàng, mới đội phía sau ra phía trước, quên cả mặc áo ngoài, đá chân nọ sang chân kia và đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Vua hỏi Hài :


- Tiên sinh là ai?


- Tôi là Đoàn Nhữ Hài, học trò trường Quốc Tử Giám. Tôi đang buồn vì thi trượt đây.


- Tiên sinh biết chữ chăng?


Hài bực tức :
- Nhà ngươi điên chắc? Ta đã chuẩn bị thi Thái học sinh, thì phải thông Bách gia, Chư tử, Cửu lưu, Tam giáo, lẽ nào không biết chữ?


Vua Anh Tôn vẫn nhũn nhặn:
- Tiên sinh làm dùm ta bài biểu tạ tội với phụ hoàng ta, rồi ta bảo quan Quốc tử giám tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm Giáp thìn ta sẽ lấy tiên sinh đỗ trạng nguyên, như vậy được chăng?


Đoàn Nhữ Hài vẫn chưa biết là vua, quát lên :
- Nhà người điên chắc? Muốn rụng đầu chăng? Nhà ngươi có biết rằng chỉ có một người được phép lấy trạng nguyên không? Nhà ngươi là ai?


Vua Anh Tôn đáp :
- Tôi là vua


Hài thất kinh hồn vía nhìn lại, quả nhiên thấy người ấy đội mũ thiên tử, chân đi hài bên thêu Long, bên thêu Phụng.Hài quỳ xuống tung hô vạn tuế và tạ tội. Gặp quan tuần Hoàng thành, vua sai lấy thêm ngựa cho Hài cỡi, lấy áo cho vua mặ rồi lên đường về Thiên Trường. Trên đường đi Hài làm bài biểu dài 2.200 chữ cho vua tạ tội. Thượng hoàng đọc bài biểu ấy, thấy lời văn hàm súc ý tứ cao thâm. Truyền tha tội cho Anh Tôn và gọi Hài vào hầu. Ngài nhìn qua Hài rồi nói :


- Trông tiên sinh dung quang khác lạ, chắc thế nào cũng là bậc văn thần sau này. Để bần tăng coi lại lá số tử vi cho tiên sinh xem. Hài trình niên canh bát tự. Thượng hoàng bấm tay xem qua mừng lắm :


- Ta đang lo không có một văn thần trẻ tuổi phò tá con ta. May gặp tiên sinh đây là người trung liệt, văn mô vũ lược, chí tả, tâm hùng đáng là bậc đại thần vậy.


Hài trình việc gặp thầy Tử vi ở chùa Một cột Thăng Long. Thượng Hoàng cười bảo Hài :
- Khoa Tử vi do Hoàng Bính tiên sinh truyền chó Thái Tông nhà ta. Con gái người là Hoàng Thái Phi truyền cho bần tăng.Còn thượng phụ cũng được người truyền (thượng phụ tức là đức thánh Trần). Thượng Phụ truyền cho Hưng Nhượng Vương. Hưng Nhượng Vương sau khi bình thát đát, xuất gia đạo hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Chính bần tăng là đệ tử của ngài Tuệ Trung. Người xem tử vi cho tiên sinh là ngài Tuệ Trung đấy.


Hài than dài:
- Không biết thân có ân phước gì mà gặp toàn những bậc Thánh chúa, Thánh tăng chỉ đường, chỉ lối vậy?


Thượng hoàng nói :
-Chẳng qua là số.Số tiên sinh cung nô có Tham,Hồng,Đào,Quyền,Tả nên gặp may, duyên kỳ ngộ mà gặp chúa.
(Trích Đông A di sự)

Khi nhà Hổ cướp ngôi, con cháu nhà Trần ẩn tích mai danh, cải họ, phiêu bạt tứ phương. Quân Minh sang đánh nhà Hồ chở hết sách vở về Kim lăng trong đó có bộ Đông A di sự. Duy có bộ Đông A di sự của con cháu Hưng nhượng Vương Trần Quốc Tảng (Con thứ hai đức Thánh Trần) nhờ xuất gia nên còn lưu lại trong cửa Thiền được, truyền đến nay. Một bộ nữa do Băng Hổ Tướng công Trần Nguyên Đán truyền cho cháu ngoại là Nguyễn Trãi. Sau khi xẩy ra cái án Thị Lộ, bộ trên thất truyền. Suốt trong thời Hậu Lê, con cháu nhà Trần không giám xuất hiện vì bị nhà Lê nghi ngờ trung hưng Trần Triều vì vậy khoa Tử vi lại trở thành bí truyền.

Mãi tới đời nhà Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), lại tìm được sách của người Trung Hoa trong phái Hà Lạc, về nghiên cứu, Khoa Tử vi phổ thông từ đấy. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông cả Thiên văn, Địa lý, Bói dịch nên khoa Tử vi của ông nghiên cứu thiên về Bói dịch nhiều quá, nhiều hơn cả khoa Tử vi của phái Hà Lạc nữa.

Đời Lê – Trịnh, ông Lê Quý Đôn (1726-1784), đậu Bảng nhãn năm 29 tuổi. Năm 1760 ông được sung chức Phó sứ, sang Trung Hoa. Bấy giờ nhằm niên hiệu Càn Long thứ 25, thời gian này là lúc vua Càn Long chưa thống nhất các môn phái Tử vi. Ông Lê Quý Đôn giao du với các danh sĩ Trung Hoa, được phái Âm Dương cho bộ “Tử vi Âm Dương Chính nghĩa Kinh, Bắc tông”. Trở về ông nghiên cứu, truyền bá trong dân gian. Ông là một nhà bác học đa năng, nên công cuộc nghiên cứu của ông rất giá trị, hiện còn lưu truyền.

KHOA TỬ VI VN NGÀY NAY

[B]a)Các thư tịch còn lại

Điểm qua các sách ta thấy:
-Phái Triệu gia thừa hưởng chính thư của Tống Thái Tổ do Hi Di truyền lại. Trải qua các đời còn lưu giữ được nguyên vnej Phái này có bộ “Triệu Thị Minh – Tuyết Tử vi kinh”. Cuối đời Tống bộ “Triệu Thị Minh Tuyết Tử vi Kinh”, và bộ “Tử vi tinh nghĩa” được Hoàng Bính truyền sang cho con cháu nhà Trần. Con cháu nhà Trần nghiên cứu thêm, chép thành bộ “Đông A Di sự”
-Bộ “Đông A di sự” bị nhà Minh mang về Trung hoa. Nhà Thanh căn cứ vào bộ:
-Tử vi tinh nghĩa
-Triệu thị Minh Thuyết tử vi kinh
-Đông A di sự
Mà chép thành bộ Tử vi Đại toàn.

Các bộ sách trên đây được coi là chính thư. Học rất mau hiểu và đoán rất chính xác. Hiện nay một số con cháu họ Trần ở Nam Định di cư vào Nam, còn lưu truyền bộ Đông A di sự. Nhưng vì bộ này không chép riêng khoa Tử vi, mà còn chép nhiều điều bí mật trong họ Trần, nên không mấy người được đọc. Bộ này thực là quý báu.

-Một số nhà nghiên cứu Tử vi ở VN, hiện tại là nhờ sách của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn để lại. Sự khác biệt giữa các sách thực nhiều vô kể. Nhưng xét kỹ thì bộ Đông A di sự vẫn có lý hơn.

[B]b)Sự khác nhau giữa chính thư và tạp thư

-Về cách an sao: Như sao Hỏa tinh, Linh tinh phái Hà lạc. Âm Dương căn cứ vào Năm rồi lại căn cứ vào Tháng, Giờ mà an. Trong khi phái Triệu, Trần, Thanh lại chỉ căn cứ vào năm mà thôi.

Như sao Khôi, Việt, chính thư an ở Dần, Ngọ, cho tuổi Tân mà thôi. Tạp thư lại đi an cả cho các tuổi Canh nữa. Vòng Trường sinh chính thư và phái Âm Dương an ở bốn cung Thân, Hợi, Dần, Tỵ. Trong khi phái Hà lạc lại đi an cả ở bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu nữa. (Cung khởi cho sao Trường Sinh).

-Phái Hà Lạc thêm vào rất nhiều sao nữa như đã nói ở trên.

-Về tính chất, vận hạn: Phải công nhận chính thư đúng, chính xác nhất. Những bài phú đoán văn chương, uẩn súc vô cùng của các vua nhà Tống của các vua nhà Trần còn lưu lại. Còn những câu phú của tạp thư có lẽ người Tầu họ cũng không thành thực với nhau nên đã sửa đổi, thêm bớt đi khá nhiều.

Thí dụ: tính chất của sao Liêm Trinh, và Tham Lang tại Tị, Hợi:
-Tạp thư ghi: Liêm Tham Tị Hợi hình ngục nan đào (Mệnh lập tại Tị, Hợi mà có sao Liêm Tham thủ thì thế nào cũng bị tù).

-Chính thư lại nói khác:
Liêm, Tham Tị Hợi tứ Sát hình trượng nan đào.
Nhược Bính Quí nhân chung thân khất cái.
Giáp Mậu Kỷ tuế vĩnh thế vô ưu
Nghĩa là: Mệnh Liêm Tham lập tại Tị Hợi mà có tứ Sát mới bị tù.
Người tuổi Bính, Quí còn lang thang ăn mày cả đời. Người tuổi Giáp, Mậu, Kỉ thì cả đời vô lo (Sách Đông A di sự còn chú giải thêm: Tuổi Bính Quí bị thêm Đà la, Kình dương, Hóa kị nên ăn mày, Tuổi Giáp có Hóa Lộc, tuổi Mậu Kỷ có Hóa Quyền thì tốt lắm).

Chỉ một câu trên ta thấy tạp thư bị cắt xóa đi nhiều. Nếu chép đầy đủ những dị biệt của hai phái ra phải mất vài ngàn trang giấy.

[B]c)Các nhà nghiên cứu Tử vi ngày nay

Theo chỗ chúng tôi biết, thì chưa có nhà nghiên cứu Tử vi nào đi đoán lấy tiền mà đoán cho ra hồn. Hầu hết học qua loa rồi đi bịp đời làm giầu mà thôi. Những nhà nghiên cứu đến nơi đến chốn họ thường khó tính, khi xem cho ai, tốt thì họ nói tốt, xấu thì họ nói xấu. Nên thường làm phật lòng thân chủ mà không cần chú ý. Hơn nữa những vị này thường có địa vị nên đâu phải ai cũng nhờ họ coi dùm được, họ rất bận rộn.

Hiện VN có những nhà nghiên cứu thành danh sau đây, đều không mở tiệm lấy tiền và có địa vị khá ngoài xã hội:
-Nguyễn Mạnh Bảo (Kiến trúc sư)
-Đỗ Văn Lưu (tức Song An)
-Nguyễn Phát Lộc
-Hoàng Quân (giáo sư, ký giả)
-Nguyễn Văn Y (đại tá, cựu Tổng giám đốc CSCA).
-Việt Viêm Tử (học giả)
-Vân điền Thái Thứ Lang (Tu sĩ).

1-Ông Nguyễn Mạnh Bảo: Là một kiến trúc sư, uyên thâm cổ học. Đem phương pháp chú giải sách Tây phương ra nghiên cứu Dịch kinh, Tử vi. Ông chú giải sưu tầm tất cả công trình của hệ phái cụ bảng Đôn, tức là phái Âm Dương Trung hoa. Nhưng ông không chú giải kỹ nên kẻ nào mới vào nghề đọc sách của ông rất nhức đầu. Ông bận rộn nhiều việc nên công trình của ông bỏ lửng. Công trình nghiên cứu của ông, được nhiều người ngoại quốc chú ý, và sưu khảo. Phải nói rằng ông làm cho người ngoại quốc biết đến Tử vi VN vậy.

2-Ông Đỗ Văn Lưu tức Song An: Con nuôi họ Trần ở Nam Định nên học được một phần của bộ Đông A di sự. Nổi tiếng từ năm 1930 tại Nam Định. Ông có trước tác nhiều sách Tử vi. Nhưng vì ông không được truyền hết bộ Đông A di sự, nên tác phẩm của ông chưa đến chỗ tuyệt hảo. Ông mất năm 1962 tại Vũng Tầu. Ông không có con trai, nên kinh nghiệm của ông bị mất đi, thực đáng tiếc.

3-Ông Việt Viêm Tử còn có tên là Hà lạc dã phu (Gã nhà quê nghiên cứu về Hà lạc). Công trình nghiên cứu của ông nằm trọn trong bộ “Tử vi áo bí”. Đọc sơ qua cũng thấy ông trong phái Hà lạc trung hoa. Bộ sách của ông có nhiều khuyết điểm vì nó có nhiều chỗ bị sai lạc, và nhất là điểm bắt độc giả phải chấp nhận những điều không hiểu tại sao. Trong khi khoa Tử vi có thể giải thích được. Hình như sách của ông do hai người viết, vì có nhiều đoạn hành văn rõ ra người tân học, và có đoạn lại hành văn ra người cổ học. Sách của ông có nhiều đoạn dài dòng vô ích, như cách tìm Cục, tìm sao Tử vi, chỗ giải thích lôi thôi về Âm Dương ngũ hành. Nhưng sách của ông giới mới học rất thích.

Bốn nhà nghiên cứu trên đây nổi tiếng nhờ tác phẩm. Song 3 nhà nghiên cứu sau đây mới là ba nhà nghiên cứu tinh vi, và nổi tiếng nhờ tài giải đoán, dạy học trò: Nguyễn Phát Lộc, Nguyễn Văn Y và Hoàng Quân. Ba người đều có địa vị lớn và có dịp tiếp xúc với các danh nhân. Cả ba đều khó tính, và hay nói thực làm mất lòng người nhờ coi, mặc dầu sự giải đoán đúng 100%.

4-Đại tá Nguyễn Văn Y: Cựu Tổng giám đốc CSCA hồi đệ nhất Cộng hòa. Ông lớn tuổi, địa vị cao, ở và tư thế đặc biệt, nên ông liếc mắt qua là thấy một lá số nào bị: mất cắp, ở tù, bị lừa, bị đánh, bị cướp, bị bỏ, bị chết,…Hình như 100 lá số ông đoán trúng cả 100.

Người nghiên cứu tử vi lấy làm lạ là ông không mấy chú ý đến phá cách, mà đáng lẽ ở địa vị của ông phải coi là chính. Công trình nghiên cứu của ông hình như thuộc phái Âm Dương, nhưng ông không quá chú ý vào lẽ Âm Dương. Đưa một lá số của người bị tù ra hỏi ông, ông có thể đọc cho năm bị tù, bao lâu và bao giờ được tha. Nhưng đưa một lá số của một người có địa vị ra hỏi ông rằng người đó đang mê muội, làm sao cho hết thì ông không quen.

5-Giáo sư Hoàng Quân: còn là ký giả (Saigon có 2 Hoàng Quân). Một Hoàng Quân người Nam, không biết Tử vi cũng là ký giả, lớn tuổi. Một là Hoàng Quân trung niên, họ Trần, vì tránh tên cố Đại tá Trần Hoàng Quân nên ông bỏ họ đi Giòng giõi Hưng Đạo Vương, nên ông được thừa hưởng công trình của phái Đông A. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm và đậu cử nhân văn khoa, sau khi du học về báo chi. Ông làm việc cho cơ quan nghiên cứu Đông Á Châu, nên còn có đủ sách của các phái khác (?) Nhờ vào vị trí làm đại diện cho vài cơ quan nghiên cứu và báo chí ngoại quốc nên ông có dịp tiếp xúc với hầu hết danh nhân đương thời, do đó ông đoán về bước thăng trầm danh vọng rất trúng. Cầm một lá số của vị Tướng, ông đọc được năm nào thăng cấp, năm nào bị phạt, bị thương, bị mất chức trong suốt đời binh nghiệp. Song ông chú ý đến phá cách nhiều hơn. Cầm một lá số của một thân chủ nào đó ông có thể trả lời ngay cho biết muốn làm cho đương số nghiêng ngửa thì dùng loại người nào và cách dùng nào. Công trình nghiên cứu của ông độ 6000 trang in offset và không phổ biến cho ai ngoài thân hữu và huyết tộc.

-Ông Nguyễn Phát Lộc: Giữ một trọng trách quan trọng, là một bác học đa năng, ông đã trước tác một cuốn sách Tử vi. Song sách không phải là đại diện cho công trình nghiên cứu của ông. Công trình của ông không nhất thiết theo phái nào. Song coi kỹ thì cách an sao của ông lại theo phái Âm Dương, trong khi tính chất các sao khi thì có vẻ như phái Đông A, khi thì có vẻ như phái Âm Dương. Ông được mời làm giảng viên trường Đại học Chiến tranh chính trị về khoa Tử vi, nên công trình của ông có nhiều ảnh hưởng trong tương lai vào lớp người sau.

7-Vân Điền thái Thứ Lang: là một Đại đức, tu tại Đà lạt. Ông có trước tác cuốn sách mang tựa đề “Tử vi đẩu số tân biên”. Cuốn này của ông trình bày rất có phương pháp, mạch lạc. Đọc qua sách của ông, thấy ngay ông ảnh hưởng hai phái:
-Một là phái Âm Dương qua cụ Lê Quý Đôn.
-Hai là bộ Đông A di sự.
Ông qua đời trong một tai nạn xe hơi trên đường Đà lạt Saigon.

[B]V-Kết luận

Trên đây chúng tôi đã trình bầy sơ sài về khoa Tử vi ở VN để hướng dẫn những vị nào có trí thông minh, có sức kiên nhẫn muốn tìm hiểu khoa này. Quí vị cứ thử nghiên cứu đi sẽ thấy mình mê ngay khoa này. Và bấy giờ mới tỉnh ngộ: Hỡi ơi, mấy tên thầy bói nói láo bịp đời trong khi chẳng biết cái gì cả. Nếu độc giả nào không sợ bị sự thực mất lòng, thử tìm đến một trong ba nhà nghiên cứu trên mà xem, tôi xin cam đoan các bị đó sẽ nói đúng mọi sự quá khứ vị lai ra. Nhưng làm thế nào để quen được với các vị là một điều khó (Tôi xin mách: Muốn tới Đại tá Y thì nên để cho người nào mà thân nhân có tai nạn hỏi xem có bị tù không? Tù bao lâu? Bao giờ tù? Bao giờ ra tù? Tới ông Nguyễn Phát Lộc thì các vị cứ nói rằng nghe tiếng nay có sự đến xin chỉ dẫn. Tới giáo sư Hoàng Quân thì nhờ mấy tờ báo làm trung gian (Tôi xin dặn trước rằng cả ba người đều ở vào địa vị nhiều tiền danh vọng cao…Xin chớ nói đến trả thù lao mà bị mắng liền).

[B]KHHB số 74G2
[/B][/B][/B][/B][/B]
Nhất Kiếp Sinh Nhân
Vô Thường Huyễn Ảo
Bất Biến Tùy Duyên
Thỏa Trí Bồng Lai
Trả lời
#52
Kinh nghiệm:

[B]MỘT TIẾNG CHUÔNG KHÁC VỀ VÒNG TRÀNG SINH

[B]Nhận xét về: 1) Tứ mộ 2) Sao Mộ 3) Mộ khố 4) Ngũ hành sinh khắc và Ngũ hành đồng loại.

[B]Lê Ốc Mạch

Chúng tôi viết bài này để giải thích về tứ Mộ, sao Mộ và Mộ khố với mục đích để quý vị độc giả KHHB đang muốn hỏi thêm về Tử vi đẩu số rút thêm kinh nghiệm và chúng tôi ước mong rằng quý Cụ cao niên uyên thâm về khoa Tử vi đẩu số chỉ điểm cho những chỗ sai lầm thì thật là vạn hạnh.

[B]A-Tứ mộ

Tử vi đẩu số có 12 cung, mỗi cung mang tên một trong Thập nhị địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ cho nên các cụ tiền nhân gọi là Tứ Mộ

[B]B-Sao Mộ

Khi con người được sinh ra mỗi người có số mệnh của mình gọi là Thiên Mệnh cũng thế. Ngài Hi Di Trần Đoàn lập ra vòng Tràng sinh theo thuyết nhà Phật, gồm có 12 sao là:

-Tràng sinh tiêu biểu cho sự được Trời sinh ra.
-Mộc dục tiêu biểu cho sự tắm gội, giữ vệ sinh
-Quan đới tiêu biểu cho sự thích làm quan cho oai vệ
-Lâm quan tiêu biểu cho sự thích khoe khoang làm giáng
-Đế vượng tiêu biểu cho sự lập công tích đức để được giàu sang mỗi ngày mỗi tăng.
-Suy tiêu biểu cho sự già nua suy yếu.
-Bệnh tiêu biểu cho sự bệnh hoạn lúc già.
-Tử tiêu biểu cho sự chết là linh hồn lìa xác
-Mộ tiêu biểu cho sự chôn cất, thành mồ mả.
-Tuyệt tiêu biểu cho sự cắt đứt với cuộc đời trần tục
-Thai tiêu biểu cho sự đầu thai lên làm kiếp khác theo thuyết nhà Phật và còn có ý nghĩa nữa là thành cái bào thai trong bụng mẹ.
-Dưỡng tiêu biểu cho sự được nuôi dưỡng trong bụng mẹ. Chúng tôi tự đặt ra câu hỏi: Trong 12 sao trên đây tại sao Sinh, Vượng, Mộ lại là tốt, nhất là Mộ là mồ mả thì tốt ở chỗ nào?

Xin thưa: Sinh là được sinh ra làm người do Thiên Mệnh là tốt lắm, vì theo thuyết luân hồi nhà Phật thì có người vì tội lỗi phải đầu thai làm súc vật kia mà, do đó được làm người là sung sướng lắm.

Vượng là làm ăn thịnh vượng giàu sang cho nên nói là quí lắm.
Còn Mộ thì có chết mới có chôn, chết bờ chết bụi, chết tại pháp trường cát là chết ô nhục, còn như chết mà được chôn cất, có mồ mả đàng hoàng thì đó là sự vinh hạnh đấy.

Do sự giải thích trên đây mà Tràng sinh, Đế vượng và Mộ là ba sao tốt nhất trong vòng Tràng sinh.

Chúng tôi đọc sách Tử vi chữ Việt, cho nên không thấy sách nào nói rằng sao Mộ phải an vào Tứ Mộ. Quý vị độc giả của giai phẩm KHHB thấy “sao Mộ” phải an vào tứ Mộ nói trong cuốn sách nào, xin cho biết, chúng tôi cảm tạ trước.

Chúng tôi lại nhận thấy trong mấy lá số Tử vi đăng trong KHHB, mấy đương số là Âm Nam Dương Nữ được sao Mộ an ở Tứ Mộ, thành ra làm cho hai sao Tràng sinh và Tuyệt, thay vì an ở Dần Thân Tị Hợi lại được an ở Tứ chính (Tý Ngọ Mão Dậu). Vốn có máu giang hồ, anh hùng rơm, chúng tôi thích tính chuyện lỗ lãi, và ở đây chúng tôi thấy sự đổi chác này là đổi hai lấy một cho nên chúng tôi cho là bị lỗ vốn nên không chịu đâu, quý cụ ạ. Vả lại, nếu Tràng sinh và Tuyệt không an ở Dần Thân Tị Hợi mà được an ở Tí Ngọ Mão Dậu thì định nghĩa của bốn cung Dần Thân Tị Hợi là Tứ sinh hay Tứ tuyệt hẳn sai rồi!.

Chúng tôi vẫn có ý nghĩ là vòng Tràng sinh tiêu biểu cho Mệnh, cũng như vòng Lộc tồn tiêu biểu cho Thân và vòng Thái tuế tiêu biểu cho Hạn. Trong ba vòng này thì vòng Tràng sinh là quan trọng hơn cả, vì muốn an Lộc tồn chỉ cần biết Can của năm sinh, muốn an Thái tuế chỉ cần biết năm sinh là năm thuộc Địa chi nào, còn như muốn an Tràng sinh thì khó hơn, phải biết tháng sinh, giờ sinh để an Mệnh, rồi theo vị trí của Mệnh ở cung nào, với Can của năm sinh mà tính ra Cục để an Tràng sinh.

Cũng như vòng Tràng sinh là quan trọng thì vòng Tử vi và vòng Thiên Phủ cũng quan trọng hơn các vòng sao khác còn lại. Muốn an Tử vi, sau khi biết Cục, phải biết ngày sinh của đương số nghĩa là cần cả bốn điều: năm, tháng, ngày, giờ sinh. Trong khi đó thì vòng Tả Phụ, Hữu Bật chỉ cần biết tháng sinh; vòng Văn khúc, Văn xương chỉ cần biết giờ sinh; vòng Long trì, Phượng các chỉ cần biết năm sinh (Địa chi); vòng Ân quang, Thiên Quí thì cần biết ngày sinh, và Thiên Khôi, Thiên Việt, thì cần biết năm sinh (Thiên Can)…

Khi đoán một lá số Tử vi, chúng ta nên nhớ:
1)Vòng Tử vi Thiên Phủ chỉ cần một sao gọi là chính tinh (có khi có hai chính tinh đồng cung) là chúng ta có thể giải đoán là tốt hay xấu.

2)Các vòng sao bàng tinh như Tả Phụ, Hữu bật, Văn khúc, Văn Xương, Long Trì, Phượng Các…thì cần phải đủ bộ mới quyết đoán là tốt, nếu chỉ có một thì ảnh hưởng ít lắm.

3)Các sao nhỏ khác thì cần phải có ba sao họp lại mới có hiệu lực mạnh mẽ hoặc tốt hoặc xấu.

Về việc giải thích trên đây chúng tôi xin lấy tỷ dụ một bao gạo 100 kí. Một người khỏe thì có thể một mình vác bao gạo, đối với người yếu hơn thì cần phải hai người và đối với người yếu hơn nữa thì cần phải có ba người mới khuân được bao gạo.

[B]C-Mộ khố

Khoảng trống ở giữa 12 cung gọi là Thiên bàn để ghi: Năm, Tháng, ngày giờ sinh. Kế đến là Bản mệnh (ngũ hành) và Cục, năm tháng ngày giờ và Cục đều có chỗ để dùng rồi, thế còn Bản mệnh? Chẳng lẽ không dùng đến sao? Xin thưa là có chỗ dùng chứ, chúng ta phải dùng bản mệnh để tìm Mộ khố (cái kho tàng thạt sự đấy quí vị ạ). Trong sách có câu:
“Nạp Âm mộ khố khán hà cung”.
Xin tạm dịch: xem cung nào để nạp âm Mộ khố? Thế còn nạp âm Mộ khố nghĩa là gì?

Chúng tôi cũng táo bạo mà giải thích ý nghĩa câu “Nạp Âm mộ khố khán hà cung” như sau đây:
Chúng ta phải dùng vòng Tràng sinh, theo Bản mệnh (ngũ hành) rồi theo chiều thuận như vòng Thiên Phủ, Thái Âm khi thấy sao Mộ ở đâu đó là Mộ Khố.

Người nào tốt phúc Mệnh viên an vào Mộ khố thì gọi là Thiên khố, cái kho tàng của Trời cho, nếu cung Tài Bạch an đúng Mộ khố thì gọi là Tài Khố, cái kho tàng tiền bạc nếu cung Quan lộc an vào Mộ khố thì gọi là Quan khố, cái kho tiền bạc tiếp tài, tiếp lộc cho đương số và nếu cung Thiên Di an ở Mộ khố thì gọi là Kiếp Khố, cái kho tàng của kiếp người đi ra ngoài.

Mộ khố gặp lộc tồn, Hóa Lộc thì tốt thêm, nếu có Kiếp Không và Sát tinh hội họp thì kém phần rực rõ. Dưới đây là:
[B]Bảng Tràng sinh để tìm Mộ khố
Theo bản Mệnh (ngũ hành)
Trong khi giải đoán một lá số Tử vi, không những chỉ xem các sao tốt xấu, còn cần phải thuộc Ngũ hành tương sinh, tương khắc để xem sao với cung sinh khắc ra sao, và Bản Mệnh với Sao và Cung sinh khắc ra sao. Chúng ta nên thận trọng khi đoán về hạn, vì Mệnh viên và Thân giải đoán có sai cũng ít hại bằng giải đoán tiểu hạn và đại hạn sai lầm.

Về Ngũ hành sinh khắc, chúng tôi có vài thắc mắc xin nêu ra đây để quí Cụ và quí vị giải thích dùm cho:

Tương sinh:
Kim sinh Thủy
Thủy sinh Mộc
Mộc sinh Hỏa
Hỏa sinh Thổ
Thổ sinh Kim

[I]Tương khắc:
Kim khắc Mộc
Mộc khắc Thổ
Thổ khắc Thủy
Thủy khắc Hỏa
Hỏa khắc Kim

Đó là việc cố nhiên rồi nhưng mà:
Thủy với Thủy thì sao?
Mộc với Mộc thì sao?
Hỏa với Hỏa thì sao
Thổ với Thổ thì sao?
Và Kim với Kim thì sao?

Năm câu hỏi trên đây chúng tôi dám chắc là không có sách nào giậy về Âm Dương nói đến.

Khi chúng tôi nêu thắc mắc lên là chúng tôi đã suy nghĩ về vấn đề này lung lắm từ lâu rồi. Theo thiển ý thì:
Kim với Kim là tốt
Hỏa với Hỏa là tốt
Mộc với Mộc là xấu
Thủy với Thủy là xấu
Còn Thổ với Thổ là bình thường.

Thành thật trình bầy mấy lời, kính mong Quí Cụ và Quí vị độc giả KHHB thông cảm mà nhuận chính cho

KHHB số 74G1
[/I]
[/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B]
Nhất Kiếp Sinh Nhân
Vô Thường Huyễn Ảo
Bất Biến Tùy Duyên
Thỏa Trí Bồng Lai
Trả lời
#53
Kinh nghiệm tử vi

[B]NHỮNG YẾU TỐ LINH ĐỘNG TRONG VIỆC GIẢI ĐOÁN TỬ VI

· [B]Về lý thuyết và thực hành các sao Lộc tồn, Hóa lộc, Tang, hổ, Hóa Kỵ
· [B]Vận hạn
· [B]Sinh khắc giữa hành Mệnh và cung an Mệnh.

[B]Phong Nguyên

Nhiều vị cao thủ về Tử vi đã từng tâm sự với tôi rằng khi mới biết sơ qua về cách giải đoán Tử vi thường thường ta thấy khoa Tử vi cũng giản dị và rõ ràng nhưng khi đã đạt được mức thâm thúy thì đôi lúc lại thấy việc giải đoán quả khó khăn, dễ bị sai lầm và có thể còn thấy mù mịt, không còn biết đi tới kết luận nào nữa. Mới thoạt nghe tâm sự như vậy ai cũng tưởng các vị đó quá nhún mình hoặc gián tiếp giấu nghề, nhưng sau khi nghe các vị đó giải thích và trình bầy nhiều khía cạnh thì chúng ta không thể không dè dặt khi đoán số Tử vi. Đó là lý do đã thúc đẩy tôi viết bài hôm nay để thảo luận cùng quý bạn về đôi lời tâm sự của các nhà Tử vi kể trên.

Thực vậy, sau khi đã qua được giai đoạn ABC về tử vi, tôi mới nhận thấy rằng có các sao tốt hoặc các yếu tố Tử vi tốt cũng chưa thể cho là tốt, ngược lại cũng vậy, đành rằng tỷ lệ tốt của các sao tốt vẫn luôn luôn cao hơn tỷ lệ tốt của các sao xấu. Điều khó khăn là chúng ta phải căn cứ vào những yếu tố nào để biết sao xấu trở thành tốt và sao tốt trở thành xấu. Để tìm hiểu khía cạnh đó, tôi tạm chia bài này làm hai phần, một phần về lý thuyết và một phần về thực tế.

[B]1)LÝ THUYẾT

Có một vài nhà Tử vi đã thâu thập được khá đầy đủ những tài liệu nêu rõ tất cả các sao tốt trở thành xấu và các sao xấu trở thành tốt khi kết hợp với những sao khác hoặc khi bị thay đổi về vị trí, về Can, Chi của năm sanh hoặc năm xem hạn. Riêng về phần này mớ tài liệu đó đủ thành một cuốn sách, nhưng rất tiếc các vị đó không thể cho phổ biến và cũng không thể cho tôi coi kỹ càng, mà chỉ có bàn luận với tôi về một số sao, cho nên tôi cũng chỉ liệt kê sau đây một phần nhỏ mà thôi mặc dầu trong tâm hồn luôn luôn mong mỏi phổ biến được tối đa những sở học về Tử vi.

[B]Lộc tồn

Quý bạn đều biết sao này là “chân nhân chi tú”, một sao gần như không có gì đáng chê cả, ở cung nào ban phúc cho cung đó, nhất là ở cung Phúc đức là “phúc lộc hà sa” thì cuộc đời của ta tha hồ hưởng phúc của ông cha để lại dù cho các cung khác yếu kém nhiều, sau nữa là ở Mệnh hoặc Thân là cách suốt đời được no cơm ấm áo, mặc dầu nhiều vị và nhiều sách chê cung Tử tức có Lộc tồn vì cho đó là cách hiếm hoi hoặc hình khắc con cái nhưng tôi đã nghiệm nhiều lá số có cách đó mà vẫn đông con (đủ cả trai gái) chỉ có điểm là cha mẹ cứ phải lo cho các con ngay cả khi chúng đã trưởng thành, có lẽ xấu là chỗ cha mẹ hơi vất vả về con cái mà thôi. Đấy là nói về khía cạnh tốt của sao tốt. Còn về khía cạnh xấu thì phải nói ngay rằng ở bất cứ vị trí nào, hoặc cung nào (nhất là cung Tử tức nếu Lộc tồn đồng cung với Cự môn thì tối kỵ, vì không những Lộc tồn không còn đặc tính bình thường mà còn tạo ra nguy nan nữa, ngay cả khi nhập hạn cũng vậy, có nhiều người chỉ vì hai sao này thôi mà bị kiện cáo, đau ốm và có khi còn bị tù tội nữa (nếu thêm cách xấu khác). Còn về cung Tử tức nếu chẳng may bị hai sao trên thì thực đáng ngại, khó lòng có con hoặc nếu có cũng chẳng nuôi được. Chẳng thế mà có câu phú “Cự phùng Tồn tú các xứ toàn hung, ưu nhập Tử cung, tống lão vô nhi” (quí bạn nên lưu ý là nhiều sách chép “cát xứ tàng hung”. Nhưng nhiều vị Tử vi cho biết là “các xứ toàn hung” nghĩa là ở các cung hay vị trí đều hung cả mới hợp lý).

Ngoài ra, Lộc tồn còn kỵ cả Thiên Cơ và Không Kiếp. Nếu gặp Không Kiếp mà xấu thì chúng ta chẳng lấy làm lạ vì Không Kiếp là hung tinh đương nhiên phải phá hại Lộc tồn, còn đối Thiên Cơ là sao tốt mà cũng kỵ thì có phải là kỳ lạ hay không? Nhưng nếu được biết rõ Thiên Cơ là cái máy, tức là có sự chuyển động, thì làm sao tiền tài có thể tụ lại được vì cứ luôn luôn bị cái máy hất tung ra. Nếu Thiên Cơ nhập hạn có Lộc tồn thì càng hao tán tiền bạc nữa vì Thiên Cơ chuyển trong hạn lại càng chạy mạnh mẽ và thường xuyên hơn, như thế tiền không có lối vô, tức là không thể tụ của được. Còn về Không Kiếp, chắc có bạn thắc mắc tại sao Lộc tồn lại không ngại Thiên không. Chắc quý bạn đều biết Không Kiếp tượng trưng cho hung đồ, chứ Thiên không chỉ tượng trưng cho hao tán chứ không bao hàm ý phá hoại. Do đó nếu Lộc gặp Thiên không có khi vẫn hay vì như thế chứng tỏ mình được ăn tiêu rộng rãi và được hưởng thụ nhiều chứ không bo bo giữ của, nhưng nếu gặp Kiếp Không thì không khác gì ông triệu phú, tỷ phú bị cướp bóc, tống tiền hoặc bị phá sản đau đớn. Trong trường hợp này nếu không có Lộc tồn lại tốt hơn vì đỡ bị mang họa vào thân mà còn hòa mình được với Không Kiếp để phát lên theo chiều hướng khác (như buồn lậu, xưng bá đố vương một vùng…)

[B]Hóa Lộc

Có thể nói từ khi tôi học Tử vi đến giờ, tôi chỉ được nghe nói là Lộc tồn còn có điểm xấu chứ chưa thấy ai nói đến Hóa Lộc bị khía cạnh gì xấu, dù cho ở hãm địa cũng chỉ kém mà thôi. Nhưng nay có vị cho biết là Hóa Lộc không nên đồng cung với Hóa Khoa mà chỉ nên đồng cung với Hóa Quyền. Vì nếu gặp Hóa Khoa sẽ tán tài, trong khi gặp Hóa Quyền vừa mở miệng ra là người khác đưa tiền cho mình vì tín nhiệm hoặc chịu ơn…Nếu Hóa Khoa ở cung khác chiếu về thì vẫn hay như thường, chỉ ngại đồng cung mà thôi. Tại sao vậy? Vì Hóa Khoa chủ về hoạt động (cũng tựa như Thiên Cơ một phần), chỉ hay cho thi cử, học hành chứ không lợi cho tài lộc. Cho nên phú có câu “Khoa Lộc Tuần phùng Chu Bột hân nhiên nhập tướng” tuy không nói về tài lộc nhưng gián tiếp nói về Hóa Lộc gặp Hóa Khoa, vì khi Khoa phá Lộc thì rất cần sao Tuần chụp giữ Khoa lại để cho ăn được Lộc mà thành sự nghiệp hiển hách. Nhiều sách chép là “Quyền Lộc” tưởng không được đúng cho lắm, và nhất là không viết “Tuần” bằng chữ hoa thành ra ai cũng tưởng là hạn gặp Quyền Lộc chứ đâu có nghĩ là gặp sao Tuần.

Ngoài ra, khi Hóa Lộc gặp Lộc tồn (đừng nên đồng cung, mặc dù nhiều vị vẫn cho là hay) thì không nên gặp Tả phù, Hữu bật mà chỉ nên gặp Nhật Nguyệt đắc địa, vì khi đã có Song Lộc tức là cách đại phú thì chỉ làm ăn lớn, tức là xứng với cách Nhật Nguyệt chứ lại gặp luôn cả Tả Hữu là cách cái gì cũng làm thì có phải là không hợp cách hay không, và như thế tức là giảm cách giàu sang đi nhiều.

[B]Tang, Hổ

Trên đây là một vài sao tốt đã trở thành xấu, nhiều hoặc ít tùy theo trường hợp. Nay tôi xin đề cập tới một vài sao xấu trở thành tốt. Tỷ dụ như hai sao Tang, Hổ, ai chẳng biết là bại tinh, nhưng chúng vẫn có những điểm khá hay như sau:

Khi Tang môn gặp Thái Dương (ở Mệnh Thân cũng như nhập hạn) thì lại tốt vì mặt trời chiếu qua cửa (Môn), tức là có công dụng đúng lúc và đúng chỗ, và do đó công danh, sự nghiệp tiến triển. Còn gặp Thái Âm thì không hợp cách, vì Tang không hợp với đêm tối.

Tang Hổ tuy chủ về sự phiền muộn, trở ngại nhưng cũng có nghĩa là làm cho người khác đau khổ, lo buồn khi hai sao đó đóng tại cung Quan lộc hoặc cung Mệnh. Và khi mình đã có khả năng làm cho kẻ khác lo buồn tức là mình phải có chức phận cao có uy quyền sinh sát (như về ngành Tư pháp, Cảnh sát, An ninh)…thì mới có thể gây “thất điên bát đảo” cho thiên hạ được. Lẽ tất nhiên cũng cần phải có thêm một số sao khác bổ túc mới đạt được quyền uy đó, nhất là các sao Khoa, Quyền, Lộc và …Khốc Hư. Hai sao Khốc Hư cũng vậy, tuy chủ về đau buồn, rơi nước mắt nhưng khi đóng đúng chỗ thì chính là người khác chịu như vậy chứ không phải chính mình. Tuy vậy hai sao Tang Hổ và cả Khốc Hư không nên tọa thủ tại Mệnh, Thân vì như thế chính mình cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các sao đó, tức là cũng hay bị đau buồn, khổ não trong lòng mặc dầu cũng gây ra được những điều đó cho người khác. Quý bạn hãy thử kiểm lại các lá số của những vị làm lớn, thường thường có Tang Hổ tại Mệnh hoặc Quan lộc.

Khi bạch hổ tọa thủ tại mệnh nếu có Thiên hình đồng cung hoặc xung chiếu thì đó là cách oai phong lẫm liệt, như ông tướng (Bạch Hổ) có kiếm báu (Thiên Hình) nhất là khi Bạch Hổ cư cung Dậu hoặc Thân, nhưng với điều kiện không có các sao “hiền” kèm theo, tỷ dụ như Quan phúc, bộ Tứ Đức, Thai, Tọa…vì các sao này làm giảm hẳn “nhuệ khí” của ông tướng, như thế khó thành công, khó có uy quyền thực thụ.

Long là cách rất hay ( cụ Ba la hay khen cách này lắm, và hình như Cụ Quản Văn Chính cũng đã nhắc lại trên KHHB rồi), nhất là được người Âm Nam và tuổi Đinh, Kỷ. Tôi nghiệm thấy nhiều khi không được cách gì khác mà chỉ có mỗi cách trên, thế mà đương số vẫn có địa vị và sự nghiệp cao trong xã hội.

[B]Sinh khắc giữa bản Mệnh và cung an Mệnh

Đa số các sách Tử vi và các nhà Tử vi đều cho rằng cung Mệnh phải sinh bản mạng mới tốt, nhưng có vị cho rằng có trường hợp sinh là xấu mà khắc mới hay. Đó là trường hợp người Âm Nam hoặc Dương Nữ, cần phải có cung Mệnh khắc bản mạng mới tốt, chỉ vì lẽ thuận nghịch mà ra. Chắc các bạn cũng để ý thấy rằng khi người nào thuộc Âm nam hoặc Dương Nữ thì đương nhiên phải an đại hạn đi nghịch, và vòng Tràng Sinh, Lộc tồn cũng an nghịch. Do đó khi cho rằng cung Mệnh khắc với bản mạng trong trường hợp này, mới tốt tưởng cũng không có gì là kỳ lạ, mâu thuẫn mà thực ra như thế mới là thích hợp vì cùng theo lẽ “nghịch” cả.

[B]Vận hạn

Về phương diện giải đoán đại tiểu hạn cũng vậy, tôi đã từng nhắc nhở quý bạn là cần nhận định tương xứng là biết ngay được tốt xấu, chứ đừng bao giờ căn cứ vào đặc tính tốt xấu của các sao mà giải đoán. Nhân dịp này, tôi lại xin nêu ra một vài thí dụ nữa cho đầy đủ: Tỷ dụ như hạn gặp cách Tử Phủ Vũ Tướng, Khoa Quyền Lộc Khôi việt sáng sủa ai mà không khen, thế mà vẫn có những người gặp cách này lại khốn đốn chứ không nói là bình thường chỉ vì mạng người đó có Không Kiếp hãm địa hoặc Sát Phá Liêm Tham hãm địa hội hợp. Chắc có bạn không đồng ý vì nghĩ rằng gặp cách tốt nếu không hợp thì tốt ít chứ có khi nào trở lại nên xấu. Nhưng nếu quý bạn thử so sánh nhóm sao tại Mệnh như những nhóm bất hảo, côn đồ và những sao nhập hạn như những nhân vật cao cấp, đứng đắn, uy quyền thì các bạn sẽ thấy ngay là nhóm trên đương nhiên bị nhóm sau áp đảo, không dung nạp nổi (như bắt bỏ tù hoặc dùng hình phạt nào đó). Cũng trong trường hợp này nếu nhóm sao tốt Tử Phủ Vũ Tướng bớt được Khoa Quyền Lộc và bị thêm Tuần, Triệt án ngữ thì lại lợi ích cho cách ở Mệnh vì khi đó các nhân vật ấy bị giảm uy quyền (tức là thiếu Khoa Quyền Lộc) lại còn bị gò bó (Tuần, Triệt) làm sao đè ép được nhóm bất hảo kia, đành để chúng mặc sức tung hoành. Nếu bình thường ta thấy cách Tử Phủ Vũ Tướng bị Tuần, Triệt (nhất là Tử vi tối kỵ Tuần, Triệt) thì khó lòng ta dám cho là hay, nhưng riêng trường hợp trên điểm xấu này đã dùng được, nếu không nói là tốt.

[B]2)THỰC TẾ

Phần này hoàn toàn không dính dấp gì đến các nguyên tắc lý thuyết về Tử vi vì chỉ căn cứ vào sự nhận xét sự kiện trước mắt, rồi phối hợp với các yếu tố Tử vi đã tìm ra, xem có sự tương hợp hay không để đi đến kết luận tốt hay xấu. Để cho dễ hiểu xin quý bạn đọc vài thí dụ sau đây:

-Nếu tình cờ quý bạn xem Tử vi cho một bệnh nhân đau yếu liệt giường chỉ chờ ngày chết (nhất là người bịnh đã già) thì quý bạn cần để ý xem đại tiểu hạn của người đó thật tốt hay không, nếu còn xấu hoặc hơi xấu thì phải đoán là con bệnh chưa thể chết được cứ phải đau khổ chịu đựng nữa. Nếu may được đại tiểu hạn thật tốt, như có Quan Phúc Khôi Việt Song Hỷ Tả Hữu Đào Hồng Khoa Quyền Lộc thì có thể quyết đoán là mãn số vì lúc đó Trời, Phật (Quan Phúc Khôi Việt) mới giúp (Tả hữu) bệnh nhân dứt được mối khổ đau triền miên để ngậm cười (Song Hỷ) nơi chín suối. Phải chi bịnh nhân chỉ mới đau yếu đôi ngày hoặc đôi ba tuần thì việc giải đoán lại phải theo như thường lệ, nghĩa là thấy đại tiểu hạn xấu mới chết được.

-Tôi có được coi khá nhiều lá số của trẻ sơ sinh và có nghiệm được trường hợp mâu thuẫn sau đây: con của người lưu manh, du đãng, tứ chiếng cao bồi nếu có lá số Tử vi thật tốt (nghĩa là từ cung Mệnh, Thân, Phúc đức cho tới Ngũ hành sinh khắc đều tốt đẹp và cũng không phạm giờ xấu nào) thường thường không nuôi được mới lạ chứ! Phải chăng phúc đức của những người đó không dung nạp được nổi một quý tử như vậy cho nên phải ra đi vĩnh viễn để đầu thai qua nhà khác mới thích hợp. Vì vậy, mỗi khi xem số Tử vi cho trẻ sơ sinh quý bạn rất cần phải biết rõ gia thế, cha mẹ của đứa bé thì mới có thể quyết đoán được vấn đề nuôi dưỡng được hay không. Tôi xin nhấn mạnh là mình nên chú ý tới cái đức của gia đình đứa trẻ chứ không cần chú trọng tới sự giàu sang, vì thiếu gì các vị lãnh tụ hoặc nhân vật lỗi lạc đã xuất thân từ một gia đình bần hàn, nghèo khó hoặc từ một người nông dân lam lũ. Chỉ có điểm khó là làm sao chúng ta biết được chính xác âm đức của gia đình đứa trẻ được tới mức nào. Đó là do nhận xét tinh vi của người xem số hoặc nếu biết coi tướng mặt thì càng biết rõ hơn. Bởi vậy khi xem số cho trẻ sơ sinh chúng ta không nên quyết đoán hấp tấp khi thấy có nhiều yếu tố cực kỳ tốt, vì chính những điểm “cực kỳ” đó là con dao hai lưỡi đối với đứa trẻ, nếu gặp một gia đình có âm đức thật tốt thì đương nhiên nó sẽ nên người và có công danh, sự nghiệp huy hoàng, còn trường hợp sinh ra trong một gia đình thất đức, độc ác thì cần…hỏi lại.

-Có nhiều trường hợp giải đoán vận hạn, gặp đủ các yếu tố Tử vi tốt thực mà vẫn không đáp ứng đúng sở nguyện của người liên hệ, như thế vẫn chưa có thể gọi là hạn tốt. Tỷ dụ như một người tỷ phú tiền rừng bạc biển nhưng lại hiếm con, nhất là con trai, khi nhờ ta coi số mà thấy đại tiểu hạn có toàn sao tài lộc, sự nghiệp thăng tiến (như có Phủ, Vũ hội Song Lộc, Long Phượng Hổ Cái…) nhưng lại có sao ngăn cản sự sinh sản (như Cô Quả, Đẩu quân, Thiên hình, Thiên Hư, Tang Hổ…) thì ta đừng nên vội mừng cho đương số, nếu ta đã được biết rõ sự thực như trên về đương số. Cũng trường hợp này, nếu hội vừa đủ các sao khả dĩ báo hiệu sự sinh con (trai) thì dù có buôn thua bán lỗ chắc đương số vẫn sung sướng, thỏa mãn như thường. Tuy khía cạnh này chỉ là tâm lý và hoàn cảnh các nhân nhưng tôi thấy vẫn có thể áp dụng chung. Tôi xin nêu thêm một thí dụ khác cho dễ hiểu hơn: Nếu một người có Mệnh hội đủ các sao thanh nhàn, thụ hưởng như Thai Tọa, Quan Phúc, Đào Hồng, Song Hỷ, bộ Tứ đức mà lại gặp một đại tiểu hạn có đủ các sao hoạt động hăng say, thành công vượt bực, uy quyền hiển hách thì đương nhiên nếu ta không cân nhắc ta sẽ quyết đoán là đương số được hưởng một giai đoạn huy hoàng, sung sướng thực sự, nhưng đối với đương số rất có thể lại là chuyện “không ham” vì bị gò ép vào môi trường trái ngược với sở nguyện của mình, mặc dầu trước nhãn quang của thiên hạ đó là điều đáng ước mơ.

Qua những điều trình bầy trên đây, quý bạn hẳn nhận thấy việc giải đoán Tử vi quá linh động, uyển chuyển, nhất là về phương diện lý thuyết vì phương diện này đòi hỏi một căn bản thực sự mà ít khi ta có vì các tài liệu giá trị không được ai phổ biến. Còn về phương diện thực tế có lẽ chỉ quan trọng khi ta đặt nặng vấn đề tâm lý hoặc khi ta muốn tìm hiểu lá số của chính mình cho thực khách quan, hoặc khi ta đang hành nghề Tử vi muốn chinh phục được hoàn toàn thân chủ của ta mà thôi. Tuy nhiên, quý bạn cũng đừng bao giờ nên quá đa nghi các cách tốt để đến nỗi lá số nào cũng chê là xấu, hoặc gặp lá số thật xấu lại khen là hay, như thế cũng không phải là linh động.

[B]KHHB số 74G2
[/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B][/B]
Nhất Kiếp Sinh Nhân
Vô Thường Huyễn Ảo
Bất Biến Tùy Duyên
Thỏa Trí Bồng Lai
Trả lời
#54
Cho bài này lên stick đc thì tốt Rolleyes
Trả lời


Các chủ đề có liên quan...
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới gửi
  [Sưu tầm] Giải đoán ĐẠI-TIỂU HẠN : Một vài khía cạnh cần nhớ. redsquare2004 4 79 12-07-2012, 08:48 PM
Bài mới gửi: redsquare2004
  Bửu Đình . Một Số Câu Phú Trong Tủ Vi Bị Giải Thích Sai Người Lái Đò 3 277 21-05-2012, 12:49 PM
Bài mới gửi: Người Lái Đò
  Hóa giải tuần triet Cú đấm thép 41 2,000 03-05-2012, 02:22 PM
Bài mới gửi: Tầm Sư Học Đạo
  Giải đoán ĐẠI-TIỂU HẠN : Một vài khía cạnh cần nhớ ...!? Hàn Sĩ Ngô 3 221 28-03-2012, 09:18 PM
Bài mới gửi: Hàn Sĩ Ngô
  Tử Vi - Khoa học hay mê tín huuduyen 3 210 27-02-2012, 10:24 AM
Bài mới gửi: lenhhosung
  Kinh nghiệm giải đoán đại tiểu hạn! huuduyen 0 151 20-02-2012, 12:06 AM
Bài mới gửi: huuduyen

Chuyển đến diễn đàn:


Những người đang xem chủ đề này: 1 khách